Mục lục bài học
Văn Mẫu Lớp 12

Phân tích bài thơ Việt Bắc - Tố Hữu

[Văn mẫu 12] Những bài văn hay chọn lọc phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, bình giảng về nội dung và nghệ thuật của bài thơ Việt Bắc.

    Phân tích bài thơ Việt Bắc - Tài liệu hướng dẫn chi tiết cách làm, lập dàn ý và tham khảo những bài văn hay phân tích nội dung bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu.

Hướng dẫn phân tích bài thơ Việt Bắc

Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

1. Phân tích đề

- Yêu cầu đề bài: phân tích nội dung bài thơ Việt Bắc.

- Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : các câu, từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

- Phương pháp lập luận chính : Phân tích.

2. Hệ thống luận điểm

- Luận điểm 1: Lời nhắn nhủ tha thiết của người ở lại.

- Luận điểm 2: Lời của người ra đi lưu luyến, bịn rịn.

3. Lập dàn ý chi tiết

a) Mở bài

- Giới thiệu tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc:

+ Tố Hữu (1920 - 2002) là một nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Cách mạng Việt Nam, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.

+ “Việt Bắc” là một trong những bài thơ được xếp vào hạng những bài thơ “tống biệt” của Tố Hữu, ra đời trong cuộc chia tay đặc biệt giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến vào tháng 10/1954.

b) Thân bài

* Khái quát về bài thơ:

- Hoàn cảnh sáng tác:

+ Tháng 10-1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc về lại Hà Nội.

+ Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc để ghi lại không khí bịn rịn nhớ thương của kẻ ở người đi.

- Ý nghĩa nhan đề Việt Bắc:

+ Việt Bắc là một địa danh - là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.

+ Việt Bắc khơi gợi niềm tự hào về vẻ đẹp quê hương đất nước, về Trung ương, Chính phủ, Bác Hồ, về người cách mạng và nhân dân Việt Bắc đã đoàn kết một lòng để lập nên những chiến công vang dội.

+ Nhan đề "Việt Bắc" còn gợi nhắc những sự kiện, những kỉ niệm của một thời kì kháng chiến gian khổ mà hào hùng, lạc quan cùng những nghĩa tình sâu nặng giữa nhân dân với cách mạng và kháng chiến ở Việt Bắc.

+ Hai chữ "Việt Bắc" như một sự hội tụ khắc sâu tình cảm thuỷ chung son sắc của nhà thơ - người cán bộ kháng chiến đối với quê hương. Đồng thời, đó là lời nhắn nhủ của nhà thơ rằng: Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống quý báu anh hùng bất khuất, ân tình thủy chung của cách mạng, của con người Việt Nam.

Luận điểm 1: Lời nhắn nhủ tha thiết của người ở lại

- Tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay (8 câu đầu)

+ Điệp cấu trúc “mình về mình có nhớ” -> lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.

+ Cách xưng hô "mình – ta

-> Cách gọi quen thuộc trong ca dao dân ca, gợi nghĩa tình thân thiết, gắn bó, tạo không khí trữ tình cảm xúc.

+ “Mười lăm năm”: từ năm 1940 thời kháng Nhật (khởi nghĩa Bắc Sơn) đến tháng 10 năm 1954 khi những người kháng chiến trở về Thủ đô.

+ Điệp từ “nhớ”: nhấn mạnh nỗi nhớ sâu sắc, thường trực, da diết.

+ "cây – núi, sông – nguồn" -> những hình ảnh gợi mối quan hệ khăng khít, thủy chung, ân tình giữa kháng chiến và Việt Bắc.

=> Người ở lại thiết tha, luyến tiếc, khơi gợi trong lòng người ra đi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình.

+ Từ láy "tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn" -> sự day dứt, lưu luyến, bối rối trong tâm trạng và hành động của người ra đi.

+ “áo chàm” -> Hoán dụ gợi hình ảnh bình dị, thân thương của những người dân Việt Bắc.

+ Hành động "cầm tay" -> sự luyến tiếc và nghĩa tình keo sơn gắn bó giữa cách mạng và Việt Bắc, gợi nhớ những cuộc chia tay trong văn học trung đại (nhưng đây là cuộc chia tay trong niềm vui chiến thắng).

=> Tiếng lòng người về xuôi bâng khuâng lưu luyến.

Những kỉ niệm về Việt Bắc trong những năm kháng chiến (12 câu tiếp)

+ "suối lũ, mây mù, miếng cơm chấm muối" -> hình ảnh thực gợi nhớ lại sự gian khổ của cuộc kháng chiến, cụ thể hoá mối thù của cách mạng đối với thực dân Pháp.

+ “Trám bùi … để già” -> mượn cái thừa để nói cái thiếu, gợi cảm giác trống vắng gợi nhớ quá khứ sâu nặng.

=> Tác giả nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.

+ Phép đối, đảo ngữ: “Hắt hiu … lòng son” -> gợi nhớ về mái tranh nghèo.

=> Họ là những người nghèo nhưng giàu tình nghĩa, son sắt, thuỷ chung với cách mạng.

+ 6 câu hỏi tu từ lặp đi lặp lại -> câu hỏi đau đáu, khơi gợi, nhắc nhớ mọi người hãy luôn nhớ về Việt Bắc.

+ "mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào" : các địa danh gắn liền với Việt Bắc, hình ảnh tiêu biểu của thủ đô kháng chiến.

+ "mình đi…, mình về…, nhớ…" lặp đi lặp lại -> Lời nhắn gọi tha thiết, nhắc nhớ những kỉ niệm về một thời ở Việt Bắc.

+ “Mình đi, mình có nhớ mình"

-> Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi.

=> Cả kẻ ở, người đi đều gói gọn trong chữ “mình” tha thiết, "mình" là một mà cũng là hai, là hai nhưng cũng là một bởi sự gắn kết của cách mạng, của kháng chiến.

=> Chân dung một Việt Bắc gian nan mà nghĩa tình, thơ mộng, rất đỗi hào hùng trong nỗi nhớ của người ra đi.

Luận điểm 2: Lời của người ra đi lưu luyến, bịn rịn.

Nghĩa tình thủy chung, mặn mà, son sắt (4 câu tiếp)

+ “ta với mình, mình với ta” : đại từ "mình – ta" được sử dụng linh hoạt -> sự gắn bó máu thịt, thấu hiểu nhau giữa người đi, kẻ ở.

+ "mặn mà", "đinh ninh" -> Nghĩa tình đậm đà, bền chặt, trước sau như một của cách mạng đối với Việt Bắc.

+ "bao nhiêu … bấy nhiêu" -> Từ ngữ so sánh gợi tình cảm bao la, chan chứa giữa cách mạng và Việt Bắc.

Nỗi nhớ thiên nhiên, con người ở Việt Bắc (28 câu tiếp)

+ “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” : nhớ từ đêm sang ngày, bao trùm cả không gian lẫn thời gian.

+ “bản khói cùng sương”

+ “rừng nứa bờ tre”, ... 

=> Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.

+ “Nhớ gì như nhớ người yêu”: so sánh nỗi nhớ Việt Bắc với nỗi nhớ người yêu, sắc thái cao nhất của nỗi nhớ.

+ “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” : sự san sẻ khó khăn gian khổ, ngọt bùi, đắng cay cùng nhau.

-> Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tấm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến.

+ “lớp học i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo” -> những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc

+ "người thương đi về", "người mẹ nắng cháy lưng",… : những hình ảnh thân thương, cảm động về con người Việt Bắc.

“người mẹ”, “cô em gái” -> nhớ những con người lao động mộc mạc, giản dị.

=> Thiên nhiên và con người ở Việt Bắc luôn in đậm trong tâm trí những người về xuôi với tình cảm chân thành, tha thiết nhất.

Nỗi nhớ về bức tranh tứ bình của Việt Bắc

+ Mùa đông:

  • Hình ảnh: hoa chuối đỏ tươi + người lao động trên đèo cao -> bình dị, khoẻ khoắn;
  • Màu sắc: xanh + đỏ + “nắng ánh” -> màu sắc ấm áp.

+ Mùa xuân:

  • Hình ảnh: mơ nở trắng rừng + người đan nón -> đẹp, nên thơ.
  • Màu sắc: trắng + trắng -> tinh khiết, thanh nhã.
  • Âm thanh: hiệp vần “ơ” (mơ – nở), “ưng” (rừng – từng) -> cảm nhận tinh tế, âm thanh của rừng mơ đồng loạt nở hoa.

+ Mùa hạ:

  • Hình ảnh: rừng phách đổ vàng + em gái hái măng
  • Màu sắc: vàng
  • Âm thanh: tiếng ve

-> Vẻ đẹp đặc trưng rộn rã, rực rỡ, đặc trưng của mùa hè.

+ Mùa thu:

  • Hình ảnh: ánh trăng
  • Âm thanh: tiếng hát ân tình thuỷ chung

-> Vẻ đẹp thanh bình, hiền hoà.

=> Sự hài hòa giữa màu sắc và âm thanh, giữa người và cảnh, cảnh và người cùng làm cho nhau thêm đẹp, làm cho bức tranh thêm sinh động.

Nhớ cuộc kháng chiến anh hùng ở Việt Bắc (22 câu tiếp)

+ Thiên nhiên cùng con người sát cánh đánh giặc:

  • Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” : nhân hóa thiên nhiên thành một lực lượng kháng chiến
  • "Phủ Thông, đèo Giàng" : những địa danh thân thuộc, gắn liền với Việt Bắc

-> Tình đoàn kết đặc biệt giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc đối với Cách mạng.

+ Hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc:

  • “ta cùng đánh Tây”
  • “cả chiến khu một lòng”
  • “rầm rập như là đất rung” -> sức mạnh vô địch của cuộc kháng chiến.
  • “quân đi điệp điệp trùng trùng” -> khí thế mạnh mẽ không gì có thể ngăn cản nổi.
  • "Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay" -> sức mạnh của thời đại, của ý chí tiêu diệt giặc, của tinh thần đoàn kết có thể làm nên những điều tưởng chừng không thể.
  • “dân công đỏ đuốc từng đoàn”

=> Khí thế ra trận hào hùng, mạnh mẽ của cả một dân tộc trong trận chiến quyết định với kẻ thù.

  • “tin vui thắng trận trăm miền ... núi Hồng”

-> Những chiến công, những niềm vui thắng trận to lớn, rộng khắp của cuộc kháng chiến.

=> Bức tranh sử thi hoành tráng ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.

Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm cách mạng Việt Bắc (16 câu cuối)

+ Câu hỏi tu từ: khơi gợi tình cảm thiêng liêng về Việt Bắc.

+ "ngọn cờ đỏ thắm, sao vàng rực rỡ, cụ Hồ sáng soi, Trung ương, Chính phủ, mái đình, cây đa,…" => Những hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng thể hiện cái nhìn lạc quan của tác giả về tương lai của dân tộc.

+ "Ở đâu… Nhìn lên…, Ở đâu… Trông về…" => Phép điệp nhấn mạnh Việt Bắc là cái nôi của cách mạng, là cội nguồn của sự sống.

+ Biện pháp đối lập: u ám - sáng soi => Đề cao vai trò của lãnh tụ Hồ Chí Minh là chỗ dựa tinh thần tươi sáng nhất cho cách mạng và nhân dân Việt Nam.

+ Cách xưng hô mình – ta

=> Niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.

* Đặc sắc nghệ thuật

- Sử dụng thể thơ lục bát đặc sắc của dân tộc

- Lối đối đáp với kết cấu đối đáp của ca dao trữ tình

- Sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta)

- Ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi

- Sử dụng nhiều từ láy, tượng hình giàu hình ảnh

- Sử dụng cách ví von so sánh thường gặp trong văn học dân gian.

c) Kết bài

- Khái quát lại giá trị nội dung bài thơ.

- Nêu cảm nhận của em về bài thơ.

4. Sơ đồ tư duy phân tích Việt Bắc (Tố Hữu)

Sơ đồ tư duy phân tích bài thơ Việt Bắc

Một số mẫu bài phân tích Việt Bắc hay

Phân tích bài thơ Việt Bắc mẫu số 1:

     Tố Hữu được mệnh danh là ngọn cờ đầu của phong trào thơ cách mạng. Thơ ông là vũ khí để tuyên truyền, cổ động tinh thần chiến đấu cũng như nêu cao tình yêu và tinh thần yêu nước mãnh liệt. Mặc dù thơ ông viết về chính trị nhưng không hề khô khan, ngược lại rất tình cảm. Bài thơ “Việt Bắc” sáng tác sau khi chiến thắng thực dân Pháp, tác giả muốn gợi lại tình quân dân thắm thiết, ân tình và sâu nặng trong cuộc kháng chiến. Bài thơ được viết theo thể đối đáp càng gợi lên sự bình dị, ấm áp và thân quen đến lạ lùng.

      Bài thơ Việt Bắc được viết theo thể lục bát tạo nên âm hưởng nhẹ nhàng, trầm bổng mà lắng sâu trong lòng người đọc. Đây chính là một sự khéo léo tạo nên thành công của bài thơ chính trị mà trữ tình, dạt dào cảm xúc này.

     Tác giả mở đầu bằng sự nuối tiếc, quyến luyến, bịn rịn của người ở lại và kẻ ra đi trong một khung cảnh tràn đầy nhớ thương:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn

      Những câu thơ chính là tâm trạng của người ở lại trong sự níu kéo và tiếc nuối khi phải chia xa những người chiến sỹ cách mạng đã bao nhiêu năm gắn bó. Tác giả đặt đại từ “ta” và “mình” thể hiện sự gắn bó khăng khít, son sắt và chung thủy. Tác giả đã đưa ra quãng thời gian cụ thể là “mười lăm năm ấy” – quãng thời gian rất dài gắn liền với cuộc chiến tranh ác liệt của nhân dân ta với thực dân Pháp. Đó cũng chính là quãng thời gian tình quân và dân thiết tha, nặng tình nặng nghĩa. Lòng người ra đi và người ở lại tràn ngập nỗi nhớ thương, nhìn đâu đâu cũng thấy bóng dáng của những điều xưa cũ, còn vẹn nguyên và tinh khôi ở trong lòng. Tố Hữu dường như đã gieo vào lòng người đọc cái cảm giác vấn vương một cách lạ lùng.

     Tâm trạng quyến luyến, bịn rịn của người ở lại khiến cho người ra đi không khỏi bồn chồn không muốn rời chân bước đi:

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

      Tâm sự của người ở lại khiến cho người ra đi không đành lòng bước đi. Tiếng nói đó lại làm chực trào nhớ thương và những kỉ niệm khó quên. Tâm trạng ấy được gói gọn trong từ “bâng khuâng” như dùng dằng, níu kéo chẳng muốn bước đi. Thật khó để có thể hiểu được cảm xúc của người trong cuộc lúc này. Lúc này đây chính tâm trạng của người ra đi và người ở lại đều không thể lý giải được là tại sao lại như vậy. Phải chăng tình yêu đã quá lớn và kỉ niệm đã quá đầy để có thể quay mặt bước đi. Suốt 15 năm sống và gắn bó với mảnh đất nơi đây, đồng đội và đồng bào đã phải trải qua bao nhiêu cay đắng, ngọt bùi, san sẻ cho nhau từng bữa cơm giấc ngủ. Những năm tháng gian khổ ấy đâu chỉ kể với nhau trong vài câu chữ như thế này, nhưng chính câu chữ đã khiến cho cảm xúc tràn ra, không thể thôi nhớ và thôi mong. Người ra đi đã đáp trả lại tình cảm người ở lại:

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

      "Ta" và "mình" dường như hòa quyện với nhau thành một thể thống nhất, không tách rời nhau. Người ra đi một mực khẳng định rằng "mặn mà đinh ninh". Hai từ "đinh ninh" như ghim chặt vào lòng người đọc tấm lòng son sắt và thủy chung trước sau như một. Đó là tình cảm hết sức thiêng liêng và cao cả.

       Khi nhớ về núi rừng Việt Bắc tác giả nhớ tất thảy thiên nhiên và con người nơi đây. Mọi thứ hiện lên đều rất sống động, đậm nghĩa, vẹn tình. Chỉ với vài bước phác họa bức tranh tứ bình về thiên nhiên và con người nơi đây hiện lên một cách vẹn tròn, ý nghĩa, tươi đẹp nhất:

"Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"

      Một bức tranh tứ bình tuyệt đẹp, sống động và tinh khôi nơi núi rừng Việt Bắc. Trong bức tranh ấy không chỉ có hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ mà còn xuất hiện thêm hình ảnh con người chân chất, mộc mạc nhưng lại tình cảm và ý nghĩa biết bao. Có lẽ đây là đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất, trữ tình nhất trong bài thơ Việt Bắc. Nó chính là điểm sáng để cả bài thơ tràn đầy tình yêu thương và tinh thần lạc quan nhất.

      Điệp từ nhớ được lặp đi lặp lại rất nhiều lần khiến cho nỗi nhớ trong cả bài thơ dường như tràn ra lênh láng, cảm xúc của tác giả cũng như vỡ òa, dội lên mãnh liệt.

     Tác giả không chỉ nhớ đến cảnh vật và con người Việt Bắc, quan trọng hơn nữa là ông nhớ những cuộc chiến tranh ác liệt gian khổ đã diễn ra:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

     Với giọng điệu không còn dìu dặt, tha thiết đặc trưng của thể lục bát nữa mà đã chuyển sang sự hào hùng, vang dội khi kể về những trận chiến giữa núi rừng Việt Bắc. Đọc những vần thơ này, chúng ta nhận ra được hào khí Đông A thật mãnh mẽ và quyết liệt, dữ dội trong lòng của tác giả. Những năm tháng đó, những cuộc chiến đó vẫn chưa hề xóa nhòa trong lòng quân và dân.

      Thực vậy, bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu với giọng điệu thiết tha, da diết và hào hùng, đanh thép đã gợi mở về tình quân dân đậm đà thắm thiết và tinh thần yêu nước mãnh liệt của nhân dân ta. Đọc bài thơ chúng ta thêm ngưỡng mộ và khâm phục sự tài tình của Tố Hữu.

Nghe bài phân tích Việt Bắc

Phân tích bài thơ Việt Bắc mẫu số 2:

     Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, miền Bắc nước ta được giải phóng. Lịch sử đất nước bước sang trang mới. Cách mạng Việt Nam bước vào một thời kì mới. Tháng 10 – 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử này, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

     Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm được chia làm hai phần: Phần đầu tái hiện giai đoạn gian khổ nhưng vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc nay đã trở thành những kỉ niệm sâu nặng trong lòng người cán bộ kháng chiến. Phần sau nói lên sự gắn bó giữa miền ngược với miền xuôi trong viễn cảnh đất nước hòa bình và kết thúc là lời ngợi ca công ơn của Bác, của Đảng đối với dân tộc.

      Việt Bắc ra đời vào thời điểm giao thời của lịch sử đất nước, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, khi trung ương Đảng và Chính phủ rời căn cứ địa Việt Bắc về Hà Nội. Giữa lúc ấy, nhiều điều có thể sẽ rất dễ đổi thay. Cuộc sống yên vui dễ làm người ta quên đi những tháng năm kháng chiến gian khổ, dễ quên đi nơi đã đùm bọc chở che cho mình. Vào đúng thời điểm nhạy cảm ấy, bài thơ ra đời như một lời nhắn gửi chân thành về tình nghĩa và sự thủy chung.

      Chọn hình thức thể hiện là lối đối đáp ta với mình của ca dao giữa người đi (người cán bộ miền xuôi) và kẻ ở (nhân dân Việt Bắc), bài thơ đã vượt ra khỏi những cảm xúc riêng tư. Khúc giao duyên tâm tình kia lại đang chuyển tải một vấn đề rất lớn của đời sống cách mạng – đó là vấn đề ân nghĩa thủy chung của cách mạng với nhân dân.

       Đoạn trích nằm trong cấu trúc chung của phần mở đầu và phần một của bài thơ – niềm hoài niệm về một Việt Bắc gian khổ và nghĩa tình trong kháng chiến. Bài thơ được triển khai theo hình thức đối đáp giữa người đi và kẻ ở, thứ thơ này gần gũi với ca dao, nó là hình thức của kiểu đối đáp giao duyên truyền thống. Tuy nhiên, trên cái nền truyền thống quen thuộc ấy, bài thơ vẫn truyền tải được một vấn đề tư tưởng lớn lao như đã nói ở trên.

       Bài thơ mang dáng dấp hình thức lối đối đáp ta với mình của ca dao. Tuy nhiên, việc sử dụng hai đại từ này trong bài thơ khá linh hoạt. Mình có khi chỉ người cán bộ miền xuôi, ta chỉ nhân dân Việt Bắc.

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

       Nhưng cũng có khi ta lại chỉ người đi, mình chỉ kẻ ở:

Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

       Trong trường hợp khác, hình thức biểu đạt kiểu ca dao đó còn linh hoạt hơn:

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…

       Có thể nói, việc thay đổi liên tục ý nghĩa biểu đạt của hai từ ta với mình là một sự sáng tạo đầy ấn tượng của nhà thơ. Hai từ này có khi hình thành một cuộc đối đáp thực sự của người đi và kẻ ở, song có khi nó chỉ là sự phân thân tự vấn của người đi để đáp lại nghĩa tình sâu nặng của kẻ ở. Sự giao thoa đó, vốn dĩ đã tạo nên một cảnh tiễn biệt dùng dằng thương nhớ. Sau nữa, nó góp phần làm cho cả một bài thơ dài không bị nhàm chán. Đặc biệt, nó tạo nên độ sâu về tư tưởng cho bài thơ.

       Tâm trạng bao trùm phần đầu của bài thơ là nỗi nhớ. Trong đó, đặc biệt những kỉ niệm kháng chiến hiện về tươi rói trong hồi tưởng của nhà thơ. Niềm hồi tưởng được hình thành từ những câu hỏi – đáp. Theo đó, Việt Bắc hiện lên với tất cả những nét đặc trưng, với tất cả những yêu thương, gian nan, tình nghĩa.

      Việt Bắc trong trí nhớ của những chiến sĩ cách mạng là những ngày “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù”. Thời gian, không gian mờ trong sương khó hoài niệm. Thiên nhiên rất đặc trưng cho không gian núi rừng Việt Bắc, nhưng cái gợi nhiều nhớ nhung nhất chính là những ngày gian nan, đắng cay mà tình nghĩa với “miếng cơm chấm muối”, “bát cơm sẻ nửa”, “củ sắn lùi”… Kỉ niệm về Việt Bắc còn có hình ảnh tảo tần của những người mẹ:

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.

       Hai chữ “cháy lưng” đủ nói lên bao xót thương cũng như ân nghĩa mà người cán bộ miền xuôi dành cho người mẹ Việt Bắc. Khó khăn gian khổ như vậy, nhưng với cách mạng, với kháng chiến, đồng bào vẫn một lòng son sắt thủy chung. Lời nhắn gửi đã nói lên tất cả:

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.

       Có thể coi Việt Bắc là một trong những điển hình của thơ ca cách mạng. Tiếng thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu đậm đà tính dân tộc. Ở Việt Bắc, tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu thể hiện ở lối kết cấu đậm chất ca dao, ở giọng điệu lục bát điêu luyện, ngọt ngào. Nhờ thế mà chẳng những bài thơ nói được những vấn đề có ý nghĩa lớn lao của thời đại mà nó còn khơi được đúng vào chỗ sâu thẳm nhất trong truyền thống ân nghĩa, thủy chung ngàn đời của nhân dân ta.

      Việt Bắc là một câu chuyện lớn, là một vấn đề tư tưởng được diễn đạt bằng một cảm nhận mang tính riêng tư. Bài thơ gợi về những ân nghĩa, nhắc nhở sự thủy chung của con người đối với con người và đối với quá khứ cách mạng nói chung.

Tham khảo thêm:

     Trên đây là gợi ý cách làm cùng hai bài văn mẫu chọn lọc hay phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu mà chúng tôi biên soạn tổng hợp gửi tới các em tham khảo. Ngoài ra, các em có thể tìm đọc thêm nhiều bài văn mẫu hay lớp 12 khác theo chương trình học Ngữ Văn 12 tại doctailieu.com.

doctailieu.com
Tải về
Back to top
Fanpage Đọc tài liệu