Mục lục bài học
Văn Mẫu Lớp 12

Phân tích truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Hướng dẫn phân tích Vợ Nhặt, lập dàn ý chi tiết, sơ đồ tư duy và tham khảo một số bài văn hay phân tích tác phẩm truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.

    Tài liệu hướng dẫn phân tích Vợ Nhặt do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn gồm nội dung gợi ý cách làm chi tiết và một số bài văn mẫu hay tham khảo phân tích truyện ngắn Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân.

Hướng dẫn phân tích truyện Vợ Nhặt (Kim Lân)

Đề bài: Phân tích tác phẩm truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân.

1. Phân tích đề

- Yêu cầu: phân tích tác phẩm Vợ nhặt.

- Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : các câu văn, từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.

- Phương pháp lập luận chính: Phân tích.

2. Hệ thống luận điểm

   Có nhiều cách để phân tích tác phẩm này, ở đây chúng ta sẽ chọn cách phân tích theo từng nhân vật (đặc điểm tính cách, diễn biến tâm lí,...).

- Luận điểm 1: Giải thích ý nghĩa nhan đề và tình huống truyện.

- Luận điểm 2: Vẻ đẹp của nhân vật Tràng

- Luận điểm 3: Vẻ đẹp của nhân vật Thị

- Luận điểm 4: Vẻ đẹp của nhân vật bà cụ Tứ

3. Lập dàn ý chi tiết

a) Mở bài

- Giới thiệu vài nét về Kim Lân:

+ Kim Lân (1920 - 2017) là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX với đề tài chủ yếu về nông thôn và người nông dân Việt Nam trước cách mạng.

- Giới thiệu khái quát về truyện ngắn Vợ nhặt:

+ Vợ nhặt là truyện ngắn đặc sắc của Kim Lân viết về người nông dân trong nạn đói thê thảm năm 1945 với những bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu.

b) Thân bài

* Hoàn cảnh sáng tác

Vợ nhặt in trong tập Con chó xấu xí (1962) có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), tác giả dựa vào một phần truyện cũ để viết truyện ngắn này.

* Luận điểm 1: Giải thích ý nghĩa nhan đề và tình huống truyện.

- Ý nghĩa nhan đề: 

+ Vợ: biểu tượng cho tổ ấm, hạnh phúc gia đình, mang ý nghĩa trọng đại và lớn lao

+ Nhặt: hành động rẻ rúng, tầm thường

-> “Vợ nhặt” nghĩa là nhặt được vợ, thể hiện giá trị hiện thực của truyện : sự rẻ rúng, bèo bọt của thân phận con người, tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói 1945.

- Tình huống truyện: Trong bối cảnh thê thảm của nạn đói 1945, Tràng - một người xấu trai, nghèo khổ, sống ở xóm ngụ cư, tính ngốc ngếch, vì nghèo mà không lấy được vợ nhưng bỗng dưng “nhặt” được vợ (theo về không).

=> Tình huống vừa éo le, vừa độc đáo, bất ngờ nhưng cũng hết sức hợp lí, thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

* Luận điểm 2: Vẻ đẹp của nhân vật Tràng

+) Xuất thân: con nhà nghèo, nhà có hai mẹ con, là dân xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe thuê.

+) Ngoại hình: xấu xí, “dáng người thô kệch, cái cười khềnh khệch”, “lưng Tràng như con gấu”, “quai hàm bạnh ra

+) Diễn biến tâm lí:

Gặp gỡ và quyết định nhặt vợ:

+ Lần gặp 1: Tràng hò đùa chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình.

+ Lần gặp 2:

  • Bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả gì -> hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng.
  • Người đàn bà quyết định theo mình về: Lúc đầu, Tràng lo sợ “chợn nghĩ” nhưng rồi tình yêu thương, khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn tất cả, Tràng lại tặc lưỡi: "chậc kệ”.
  • Tràng đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ -> Tràng nghiêm túc, chu đáo trước quyết định lấy vợ.

- Trên đường về nhà

+ “vẻ mặt có cái gì đó phớn phở”, “hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười nụ một mình”, “mắt sáng lên lấp lánh”, “cái mặt vênh lên tự đắc với mình” -> niềm hạnh phúc, vui sướng như càng nhân lên gấp bội.

+ Tràng mua dầu về thắp để căn nhà trở nên sáng sủa.

=> Tràng trở thành một con người hào phóng, quên đi hết những cay cực tăm tối trên đời.

- Khi về đến nhà

+ Xăm xăm bước vào dọn dẹp, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà.

-> Hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.

+ Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.

+ Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện. -> Biểu hiện của đứa con biết lễ nghĩa ngay cả trong hoàn cảnh nghèo đói

+ Thưa chuyện với bà cụ Tứ một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp.

+ Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.

- Sáng hôm sau:

+ thấy “êm ái lửng lơ như người trong cõi mơ đi ra”

+ “cảm động, thấy yêu thương, gắn bó và thấy mình phải có trách nhiệm với cái gia đình này

-> Tràng là một người có tâm hồn thuần hậu, hiền lành, chất phác, tâm hồn lạc quan, yêu đời, tấm lòng nhân hậu, luôn khát khao về một cuộc sống hạnh phúc ngay cả trong hoàn cảnh nghèo khó.

=> Từ khi nhặt được vợ, cuộc sống của Tràng đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái đói.

Luận điểm 3: Vẻ đẹp của nhân vật Thị

+) Hoàn cảnh lai lịch: không tên tuổi, quê quán hay họ hàng -> nạn nhân của nạn đói, phải rời khỏi quê hương, gia đình, sống trong cảnh rẻ rúng

+) Ngoại hình, tính cách:

“khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”, “áo quần rách như tổ đỉa”, “cái nón cà tàng che nửa khuôn mặt”, “cái ngực gầy tẹp lép nhô lên”

- “chao chát”, “chỏng lỏn”, cong cớn, sưng sỉa, vô duyên

- “ăn thật nhá…”, “sà xuống ăn một chặp bốn bát bánh đúc”, “ăn xong cầm dọc đũa quệt ngang miệng “Hà! Ngon!

-> Cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người.

+) Diễn biến tâm lí:

- Gặp gỡ Tràng:

+ Khi nghe câu hò vui của Tràng, thị vui vẻ giúp đỡ -> sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.

+ Khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”

+ Khi nghe Tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ... cùng về”, thị đã theo về thật dù không biết gì về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ

-> Cơ hội để thị bấu víu lấy sự sống trong cái đói khổ.

- Trên đường về:

+ Rón rén, e thẹn đi sau Tràng

+ Đầu hơi cúi xuống

-> Thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình.

- Về đến nhà:

+ Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng

-> Sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong gia đình.

+ Khi gặp bà cụ Tứ, ngoài câu chào, Thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt” -> sự lúng túng, ngượng nghịu.

- Sáng hôm sau:

+ Thị dậy sớm quét tước nhà cửa

+ Hiền hậu, đúng mực chứ không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” nữa.

+ Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt thị tối lại” nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng -> sự nể nang, ý tứ trước mẹ chồng, không muốn làm bà buồn.

+ kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang -> thắp lên hi vọng cho Tràng và cả gia đình.

-> Sau khi về làm vợ Tràng, thị đã có sự thay đổi tính cách: khép nép, hiền hậu, ngoan ngoãn, thu vén cho gia đình, có niềm tin vào tương lai.

=> Cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con người.

* Luận điểm 4: Vẻ đẹp của nhân vật bà cụ Tứ

+) Hoàn cảnh: một người mẹ nghèo khổ, chịu nhiều thiệt thòi, sống cùng con trai.

+) Ngoại hình:

- “dáng người lọng khọng”, chậm chạp, run rẩy

- “vừa đi vừa húng hắng ho vừa lẩm bẩm tính toán”.

-> gợi nét cơ cực, lam lũ

+) Diễn biến tâm lí:

- Khi vừa về đến nhà:

+ ngạc nhiên trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch

+ ngạc nhiên trước sự xuất hiện của người đàn bà lạ.

-> Bà băn khoăn, tỏ ý không hiểu

- Khi hiểu ra cơ sự:

+ “mắt bà nhoèn đi

+ Vừa đau đớn, tủi cực, vừa xót xa xen lẫn vui mừng

  • Xót xa vì thương con phải lấy "vợ nhặt" trong cảnh đói khát, lo lắng không biết liệu các con có lo nổi cho nhau hay không, thương người đàn bà xa lạ kia, phải đến bước như thế này thì người ta mới lấy con mình.
  • Vui mừng vì con đã có vợ

- Sáng hôm sau:

+ Bà dậy sớm cùng nàng dâu mới chăm bẵm vườn tược, chăm lo cho ngôi nhà của mình

+ “gương mặt bủm beo, u ám ngày thường rạng rỡ hẳn lên

+ Trong bữa cơm, bà nói về tương lai với niềm lạc quan, bảo ban các con làm ăn,...

-> Bà luôn nhen nhóm niềm tin vào tương lai cho các con.

=> Bà cụ Tứ là người mẹ hiền từ, chất phác, nhân hậu, tình mẫu tử cao đẹp.

* Đặc sắc nghệ thuật:

- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, tự nhiên

- Kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo

- Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc

- Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật

- Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi, tự nhiên

- Kết cấu truyện đặc sắc

c) Kết bài

- Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của truyện.

- Cảm nhận của em về tác phẩm.

4. Sơ đồ tư duy phân tích truyện Vợ nhặt

Sơ đồ tư duy phân tích truyện ngắn Vợ nhặt

5. Kiến thức mở rộng

- Giá trị hiện thực của truyện Vợ nhặt: Phản ánh chân thực tình cảnh thê thảm, rẻ rúng người nông dân trong nạn đói năm 1945.

- Giá trị nhân đạo:

+ Tố cáo mạnh mẽ tội ác của kẻ thực dân, phát xít

+ Phản ánh bản chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt của con người luôn hướng đến sự sống, hi vọng, tin tưởng ở tương lai.

>>> Tham khảo thêm:

Một số bài văn mẫu hay phân tích Vợ nhặt (Kim Lân)

Phân tích Vợ Nhặt bài số 1:

      Kim Lân một trong những nhà văn viết truyện ngắn từ năm 1941. Sáng tác của ông tập trung phản ánh bức tranh của nông thôn Việt Nam và hình tượng người nông dân. Dưới ngòi bút tài hoa của Kim Lân, bức tranh hiện thực của nông thôn Việt Nam cũng như nỗi niềm, cuộc sống, cảnh ngộ và khát vọng của người nông dân được thể hiện chân thực và sinh động. “Vợ Nhặt” là một trong những tác phẩm thành công của Kim Lân với cốt truyện độc đáo cùng lối dẫn chuyện hóm hỉnh hấp dẫn người đọc.

      Lấy cảm hứng từ nạn đói năm 1945, nhà văn Kim Lân đã tái hiện lại hiện thực bức tranh ngày đói ám ảnh trong từng câu chữ, từng trang văn của ông. Bằng ngòi bút tả thực kết hợp Kim Lân đã tái hiện cảnh vật xác xơ heo hút của ngã tư xóm chợ về chiều, rồi “hai bên dãy phố, úp sụp, tối om”,”cái nhà vắng teo đứng rúm ró một mảnh vườn mọc lổn nhổn”… Từng ấy thôi ngòi bút của ông đã tô đậm lên bức tranh u tối, với cảnh sống đói nghèo của nông thôn Bắc Bộ những năm 1945. Tất cả hiện lên đều còm cõi, xác xơ, rách rưới. Ở đó không chỉ có cảnh vật mà con người cũng hiện lên lụi tàn cùng cái đói, cái nghèo. Cái chết cũng được ghi lại trong âm thanh thê thiết, tạo nên sự ghê sợ, rợn người. ở đó như đang dồn đuổi sự sống của con người đến đường cùng. Âm thanh của tiếng quạ trên mấy cây gạo, của tiếng hờn khóc tỉ tê và cả tiếng trống thúc thuế mỗi lúc một dồn dập hơn. Chỉ vậy thôi mà nhà văn như tô lại hiện thực tố cáo sự tàn ác của bọn phát xít, đế quốc thực dân với những chính sách vô cùng hà khắc, rẻ rúng mạng sống của con người.

       Trong cái không gian ấy, hình ảnh con người được khắc họa lại khiến người đọc không khỏi bàng hoàng về cái đói năm 1945 ấy. Sử dụng những câu văn dài nhiều vế, kết hợp với biện pháp liệt kê Kim Lân đặc tả hình ảnh người đó “bồng bế, dắt díu nhau như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ…”. Những người sống đang lay lắt, dật dờ, sống một cuộc sống không phải cuộc sống của con người. Người chết thì “như ngả rạ” và cái chết trở thành nỗi ám ảnh, đau đớn và nhức nhối của biết bao con người. Có lẽ, chính vì thế mà nó thôi thúc Kim Lân phản ánh lại bằng những trang văn đầy ám ảnh như vậy.

       Cũng từ bức tranh đói khổ ấy, câu chuyện mà Kim Lân muốn kể với người đọc là câu chuyện đầy đủ bi hài. Ở đó là câu chuyện của nhân vật Tràng “nhặt” được cô vợ trong những ngày đói khổ như thế. Kim Lân đã rất tài tình trong việc khắc họa từng tâm trạng của nhân vật chính xoay quanh cốt truyện độc đáo. Sự thay đổi tâm lý rất phù hợp từ lúc gặp Thị (vợ Tràng), trên đường đưa Thị về nhà, về đến nhà. Đặc biệt là tâm trạng sáng ngày hôm sau và tâm trạng trong bữa cơm đều được Kim Lân tái hiện lại chân thực. Bằng những ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, mộc mạc nhà văn đã cho người đọc thấy rõ nhất được hiện thực cuộc sống thê thảm qua câu chuyện “cưới vợ” của Tràng trong ngày đói. Cũng từ cái hiện thực thê thảm đấy mà qua đó, người đọc vẫn nhìn nhận được niềm tin của nhà văn. Ông tin tưởng vào tương lai dù có thế nào, dù họ có bị đẩy vào bước đường cùng thì vẫn le lói sự sống bằng tình yêu thương sự đùm bọc lẫn nhau giữa con người. Đồng thời cũng cho thấy được khát khao hạnh phúc gia đình mãnh liệt của người dân lao động.

       Sau hình ảnh nhân vật Tràng thì nhân vật Thị cũng hiện lên với bản lí lịch trích ngang hoàn toàn trắng xóa. Không gia đình, không người thân, không nhà cửa, không tên tuổi. Thị hiện lên như một sinh vật khốn khổ bị quăng quật, hiện lên là một con số không tròn trĩnh trong cơn lốc xoáy của cuộc đời. Chỉ qua lời bông đùa đơn giản Thị nghiễm nhiên trở thành vợ của Tràng. Và như những người khác khi về nhà chồng, Thị cũng trải qua đầy đủ mọi cảm xúc, sự e thẹn, xấu hổ, đến niềm vui, sự bần thần lo lắng cùng Tràng và bà mẹ chồng về cái đói, cái nghèo bủa vây. Nhưng trong đó, vẫn là niềm vui, khát vọng sống của từng ấy con người. Từ bức tranh hiện thực ấy mà Kim Lân một lần nữa ca ngợi khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người như một giá trị tốt đẹp.

      Xây dựng một kết thúc mở cùng với lối kể truyện độc đáo, lời văn giản dị, chân thành, mộc mạc nhưng rất có sức gợi hình, Kim Lân đã rất tài tình trong việc phản ánh chân thực nạn đói của xã hội Việt Nam những năm 1945. Số phận của người lao động bị rẻ rúng, thấp hèn, bị cái nghèo đói bủa vây cùng vô số những chính sách hà khắc của chế độ thực dân. Qua đó ông cũng thể hiện giá trị nhân đạo đó là ngợi ca khát vọng sống, trân trọng và gieo vào lòng người đọc một niềm tin thay đổi hoàn cảnh. Đồng thời tố cáo xã hội đen tối, tố cáo những chính sách khiến người dân càng lâm vào cảnh lầm than.

Nghe bài văn mẫu phân tích Vợ Nhặt

Phân tích Vợ Nhặt bài số 2:

       Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc và những hình ảnh nhân vật điển hình cho làng quê. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Tác phẩm “Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cùng cực, bế tắc của người nông dân. Bằng bút pháp tả thực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bần cùng giai đoạn đó.

      Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước đang rơi vào nạn đói năm 1945, đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm, ”người chết như nga ra, không buổi sáng nào người trong làng đi chợi, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vấn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói đang hoành hành, đời sống nhân dân thê thảm.

      Ngay từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những điều khốn khổ, bần hàn nhất. Là “vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huống truyện thắt nút làm nên cuộc đời của từng nhân vật.

       Mở đầu truyện ngắn, tác giả đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” Chỉ với vài chi tiết đó, người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí của một anh nông dân nghèo rách mùng tơi. Từ ngày nạn đói hoành hành, đám trẻ con không buồn trêu tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực. Khung cảnh buồn thiu, đầy ám ảnh bao phủ lên xóm nghèo. Trong khung cảnh chiều tà, suy nghĩ của Tràng được tái hiện “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái ao nâu tàng vắt sang một bên cánh tay. Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”.

       Với vài chi tiết tiêu biểu, Kim Lân đã vẽ lên trước mặt người đọc hình ảnh người nông dân nghèo đói, xơ xác, bộn bề lo lâu đến cùng cực.

      Tác giả đã thật khéo để xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, mới lạ, làm thay đổi cuộc đời của một con người. Tình huống Tràng “nhặt” được vợ. Là “nhặt” được chứ không phải lấy được. Người đọc nhận ra sự thê thảm, bước đường cùng và đầy éo léo của con người trong xã hội bấy giờ.

       Hình ảnh vợ anh cu Tràng dần dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh “thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn”. Một người đàn bà nghèo khổ, không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ, cùng cực đúng là một đôi trời sinh.

      Giữa cái đưa vợ “nhặt” được về nhà, Kim Lân đã xây dựng nên khung cảnh đìu hiu, ảm đảm của xóm nghèo “từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới gốc đa, gốc gạo xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ kêu trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Không còn gì thê thảm và hiu hắt hơn khung cảnh chiều tàn nơi xóm nghèo như vậy. Mọi thứ dường như bị cái đói, cài nghèo đè nén đến chìm nghỉm. Bằng ngòi bút tả thực sinh động, Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc nhiều chua xót, đắng cay cho những phận nghèo long đong.

       Điều đáng chú ý chính là cách những người hàng xóm hỏi thăm Tràng về người đàn bà đi bên cạnh Tràng. Thực ra thấy lạ nên người ta mới hỏi, thì cũng hiểu ra, có lẽ là vợ Tràng, “nhìn chị ta thèn thẹn hay đáo để”. Người đàn bà bắt đầu không còn chua ngoa, đanh đá nữa mà trở nên thẹn thùng khi quyết định theo Tràng về làm vợ.

     Làm vợ một cách bất ngờ, giữa cảnh đói như ngả rạ. Có lẽ cái nghèo đói đã đẩy hai con người đến với nhau, không phải tình yêu nhưng là tình thương. Hẳn người đọc sẽ cảm thông và xót thương cho những mảnh đời dật dờ nơi xóm ngụ cư.

      Khi trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ, mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến và sự chuyển đổi trong tâm tinh thật tài tình và sâu sắc. Người đọc sẽ hiểu hơn tấm lòng một người mẹ bao dung và hiền hậu. Chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người đàn bà ở trong…” Sự băn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiện lên. Nhưng rồi bà cũng nhận ra, cũng hiểu “bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…” Những suy nghĩ chua xót của bà lão được Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái khiến cho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết.

       Bà đã chấp nhận người “vợ nhặt” của con trai. Tình huống khiến người đọc nhớ mãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm này đều không quên là hình ảnh “nồi cháo cám” trong buổi bữa cơm đón dâu đầu tiên. Hình ảnh “nồi cháo cám” là hiện thân của cái đói nghèo đến cùng cực trong một gia đình “không còn gì giá trị nữa”. Bà cụ Tứ hôm nay thay đổi tâm trạng, toàn nói những chuyện vui trong nhà, vì bà muốn mang lại không khí vui tươi hơn giữa cái nghèo. Hình ảnh “nồi cháo cám” hiện lên bình dị, đầy chua xót và nước mắt của người mẹ nghèo. Ai cũng muốn có một bữa cơm đón dâu có mâm cao, cỗ đầy trong ngày rước dâu nhưng gia cảnh nghèo nàn, “nồi cháo cám” là thứ duy nhất đong đầy yêu thương bà có thể mang lại cho con.

       Đây là một chi tiết vô cùng đắt giá trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân khiến người đọc nhớ mãi. Bên cạnh đó hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện của cuối truyện ngắn đã mang đến chút niềm tin và hi vọng về một tương lai tươi sáng hơn.

       Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo, độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt.

----/----

    Trên đây là những gợi ý cơ bản cho bài văn phân tích truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân) cùng một số bài văn mẫu phân tích Vợ Nhặt hay do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn. Hi vọng sẽ giúp các bạn học sinh lớp 12 ôn tập, rèn luyện kỹ năng làm văn tốt hơn để chuẩn bị cho các kì thi, kiểm tra sắp tới. Chúc các bạn học tốt môn Văn !

doctailieu.com
Tải về
Back to top
Fanpage Đọc tài liệu