Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở địa phương em

    Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở địa phương em là đề văn thú vị và cũng rất thường gặp khi học văn thuyết minh lớp 8. Do đó, các em cần nắm chắc cách làm của dạng bài này.

Hãy tham khảo bài hướng dẫn chi tiết dưới đây để dễ dàng nắm bắt được cách làm và áp dụng vào bài của mình em nhé.

Hướng dẫn làm bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh

1. Danh lam thằng cảnh là gì ?

   Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.

Các danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở Việt Nam

  • Vịnh Hạ Long.
  • Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm)
  • Sapa.
  • Công viên quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.
  • Đảo Phú Quốc.
  • Nha Trang.
  • Chùa Một Cột.

2. Phân tích đề

- Yêu cầu đề bài: thuyết minh, giới thiệu về một danh lam thắng cảnh mà em biết

- Đối tượng làm bài:

Để làm bài văn thuyết minh danh lam thắng cảnh thì việc đầu tiên các em cần xác định chính là đối tượng thuyết minh bởi đây là đề tài vô cùng rộng. Em lựa chọn:

+ Danh lam thắng cảnh ở địa phương em

+ Danh lam thắng cảnh của đất nước ta mà em đã thăm quan.

- Phương pháp làm bài: thuyết minh, miêu tả

3. Các bước làm bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh lớp 8

- Để thuyết minh hay giới thiệu một danh lam thắng cảnh thì việc đầu tiên các em cần phải xác định xem mình muốn thuyết minh về đối tượng nào? Em hiểu về nó như thế nào? Trả lời được các câu hỏi:

  • Nguồn gốc, xuất xứ, lịch sử hình thành nên đối tượng đó?
  • Kết cấu, kiến trúc của danh lam thắng cảnh đó bao gồm những điều gỉ? (cấu tạo bên ngoài, cấu tạo bên trong)
  • Có thể kể một vài câu chuyện lịch sử ngắn, một vị anh hùng dân tộc gắn liền với danh lam thắng cảnh đó?
  • Ý nghĩa, giá trị lịch sử của đối tượng đó?
  • Nhà nước, địa phương đã có những biện pháp nào để bảo vệ, trùng tu, tôn tạo và phát triển nó?
  • Cảm nghĩ của em về danh lam thắng cảnh đó?

Để làm được thì các em phải có thực tế thăm thú hoặc gạch ra các ý toàn diện về cảnh sắc thiên nhiên nơi em đã từng thăm quan, những sự tích hay lịch sử về danh lam thắng cảnh ấy.

- Lên dàn ý bao quát: bài văn thuyết minh cần đầy đủ ba phần, trong đó cần kết hợp các yếu tố tự sự, miêu tả và biểu cảm cho mạch văn sinh động.

4. Các luận điểm chính cần triển khai

Luận điểm 1: Giới thiệu vị trí địa lí và lịch sử của địa danh

Luận điểm 2: Cảnh bao quát đến chi tiết của địa danh

Luận điểm 3: Giá trị văn hóa, lịch sử của danh lam thắng cảnh đó

Mẫu dàn ý thuyết mình về danh lam thắng cảnh

1. Mở bài

- Giới thiệu đối tượng thuyết minh: Tên danh lam thắng cảnh mà em muốn giới thiệu.

- Cảm nghĩ chung của em về danh lam thắng cảnh đó.

2. Thân bài

Giới thiệu khái quát:

- Vị trí địa lí, địa chỉ

- Khung cảnh bao quát

(Nếu có thể em hãy giới thiệu chi tiết cách thức đi tới danh lam thắng cảnh này.)

Lịch sử hình thành:

- Thời gian xây dựng, nguồn gốc hình thành

- Ý nghĩa tên gọi hoặc tên gọi khác (nếu có)

Giới thiệu về kiến trúc, cảnh vật

- Cấu trúc khi nhìn từ xa

- Chi tiết từng đặc điểm đặc sắc và nổi bật nhất của danh lam thắng cảnh

(Tại đây cần sử dụng các yếu tố tự sự, miêu tả để người đọc có thể hình dung hình ảnh của đối tượng thuyết minh một cách chi tiết và đặc sắc nhất.)

Ý nghĩa về lịch sử, văn hóa của đối tượng thuyết minh đối với:

- Địa phương 

- Đất nước 

3. Kết bài

- Khẳng định lại một lần nữa giá trị, ý nghĩa của danh lam thắng cảnh mà em thuyết minh ở trên đối với địa phương hoặc đất nước.

- Nêu cảm nghĩ của bản thân về đối tượng thuyết minh.

Sơ đồ tư duy thuyết minh về danh lam thắng cảnh

Sơ đồ tư duy bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở địa phương em nhằm khái quát cấu trúc và các nội dung chính giúp các em hoàn thành bài làm văn đầy đủ và hay hơn

Sơ đồ tư duy làm bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở địa phương

Các bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh theo địa phương

   Nhắm giúp các em cùng tham khảo, Doctailieu giới thiệu tuyển chọn những bài văn mẫu thuyết minh về danh lam thắng cảnh được trình bày theo từng địa phương. 

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Hà Nội

Các danh lam thắng cảnh tại Hà Nội:

Thuyết minh về Hồ Gươm (hồ Hoàn Kiếm)

   Hà Nội! Không chỉ là thủ đô của nước Việt Nam. Không chỉ là trung tâm chính trị của nước nhà. Nó là một địa danh lịch sử gắn với nhiều đau thương mất mát của chiến tranh, gắn với những mốc son không thể xóa nhòa. Nói đến Hà Nội, người dân Hà Nội, luôn có những hình ảnh đẹp đẽ trong mắt mỗi người dân Việt Nam. Những địa danh, những hình ảnh, những địa điểm tại đất Thăng Long ai ai cũng muốn tham quan, được đi đến. Trong đó có Hồ Gươm.

   Hồ Gươm không chỉ là danh lam thắng cảnh đẹp của Hà Nội, nó còn là di tích lịch sử của nước ta. Trước hết, Hồ Gươm được gắn với truyền thuyết Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn cùng thần kim quy đã giúp nước ta thoát khỏi ách đô hộ của giặc Minh xâm lược. Sự tích trả gươm rùa thần của Lê Lợi đã làm nên cái tên "Hồ Gươm" hay "Hồ Hoàn Kiếm" ngày nay thay cho tên "Hồ Lục Thủy" ngày xưa. Trên hồ có hai hòn đảo: đảo Ngọc và đảo Rùa. Đầu thế kỷ 19, người ta dựng một ngôi chùa trên đảo Ngọc gọi là chùa Ngọc Sơn. Ít lâu sau chùa không thờ Phật mà thờ thánh Văn Xương và Trần Hưng Đạo nên đổi tên thành Đền Ngọc Sơn. Năm 1864, trên gò Ngọc Bội đối diện với đảo Ngọc, Tháp Bút được xây dựng.

   Hồ Gươm là hồ nước ngọt tự nhiên của Hà Nội. Với diện tích 12 ha, nước hồ quanh năm xanh ngắt. Hồ có vị trí kết nối giữa khu phố cổ gồm các phố: Hàng Ngang, Hàng Đào, Cầu Gỗ... với các khu phố Tây do người Pháp quy hoạch như: Tràng Thi, Bảo Khánh, Nhà Thờ, Đinh Tiên Hoàng, Tràng Tiền, Hàng Khay, Bà Triệu... Đến thăm Hồ Gươm, không thể không thấy hình ảnh tượng trưng của nó. Đó là tháp Rùa. Tháp Rùa được xây dựng nằm ở trung tâm hồ chịu ảnh hưởng của đặc trưng kiến trúc Pháp. Tháp hình chữ nhật, có bốn tầng. Kiến trúc từng tầng khá giống nhau. Các mặt được xây dựng đều có cửa uốn thon gọn. Tháp Rùa được coi là kiến trúc có tính chất lịch sử và thiêng liêng đối với không chỉ người dân Hà Nội mà còn là cả con người Việt Nam. Đặc biệt, đến với Hồ Gươm thì hầu như ai cũng dành chút thời gian để bước chân lên chiếc cầu Thê Húc màu son dẫn vào đền Ngọc Sơn. Sự kết hợp giữa đền Ngọc Sơn và hồ Hoàn Kiếm đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên - Nhân hợp nhất tạo vẻ đẹp cổ kính hài hòa cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hòa giữa con người và thiên nhiên. Ngoài ra, Hồ Gươm còn gắn liền với các địa danh khác như Tháp Bút, Đài Nghiên, Đền thờ vua Lê....

   Hồ Gươm đã cùng với thời gian trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Biết bao đời vua trị vì đã đến đây để thực hiện những nghi thức long trọng. Cũng bởi giá trị lịch sử của nó đối với Hà Nội và cả đất nước Việt Nam, mà Hồ Gươm đã trở thành điểm đến của biết bao du khách trong và ngoài nước mỗi khi đặt chân đến Thủ đô. Không ai có thể phủ nhận giá trị kiến trúc cũng như giá trị lịch sử của Hồ Gươm.

   Đối với người dân Hà Nội, Hồ Gươm không chỉ là điểm đến dừng chân, ngắm cảnh hữu tình hay hóng gió. Hồ Gươm đã cùng với người dân Hà Nội trải qua biết bao thời kỳ đổi thay, chuyển mình của đất nước. Nó mang một giá trị tinh thần hết sức to lớn đối với người dân Hà Nội. Nó như một người bạn, một người tri kỉ, một chứng nhân lịch sử quan trọng của người dân Hà Nội. Cũng giống như cầu Long Biên hay bất kỳ một địa danh nào khác của Hà Nội, Hồ Gươm là dấu ấn riêng của Hà Nội mỗi khi nhớ về. Không chỉ bởi lẽ đó, Hồ Gươm còn có một vị trí địa lý hết sức quan trọng đối với Hà Nội. Nằm ở trung tâm Hà Nội lại nối các khu phố quan trọng với nhau đã khiến cho Hồ Gươm càng trở nên quan trọng đối với đất Thủ đô phồn hoa rực rỡ này.

   Bởi vậy mà các sự kiện quan trọng của đất nước thường được tổ chức và diễn ra tại đây. Chưa hết, do nước hồ trong xanh tạo một cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái mỗi khi hè đến. Ai cũng biết cái nóng của Hà Nội. Nhưng khi dừng chân ở bờ hồ Hoàn Kiếm, mọi cái nắng không thể làm vơi đi sự mát mẻ cũng như thoải mái nơi đây. Đây cũng là lí do vì sao, mỗi khi mùa hè đến, xung quanh Hồ Gươm thường rất đông người. Ngày nay, Hồ Gươm còn là điểm đến lí tưởng của các bạn trẻ đặc biệt là sinh viên. Bởi lẽ, ở đây tập trung rất nhiều du khách nước ngoài. Chính vì thế, các bạn sinh viên năng động ngày nay thường đến đây để nâng cao khả năng giao tiếp với người nước ngoài của bản thân mình.

   Tóm lại, Hồ Gươm vừa là danh lam thắng cảnh, vừa là di tích lịch sử, vừa là dấu ấn là tri kỉ của Hà Nội, người Hà Nội. Hơn hết, Hồ Gươm còn là địa điểm du lịch, nơi nghỉ ngơi vui chơi học tập của mọi người. Hãy đến với Hồ Gươm, bạn sẽ cảm nhận được tất cả những gì mà tôi nói. Hồ Gươm - một địa điểm tuyệt vời giữa lòng Hà Nội.

   Nếu em muốn làm bài văn về địa danh này, có thể tham khảo thêm tuyển chọn những bài văn thuyết minh về Hồ Gươm đặc sắc khác được Đọc Tài Liệu biên soạn.

đền Ngọc Sơn và Hồ Gươm

Thuyết minh về đền Ngọc Sơn

“Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
Đài Nghiên, tháp Bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này.”

   Những câu ca dao trên cũng lời bộc bạch, nhắn nhủ của người dân Hà Nội với khách từ thập phương về tụ hội tại trên mảnh đất thiêng liêng này.

   Đã trải qua bao năm tháng, Hà Nội giờ đây đã được thay đổi từng ngày, nhưng những quần thể di tích lịch sử vẫn mãi trường tồn nguyên vẹn với thời gian. Một trong số đó phải kể đến Đền Ngọc Sơn một nền tinh hoa của văn hóa dân tộc.

   Đền Ngọc Sơn tọa lạc trên đảo Ngọc thuộc địa phận của Hồ Hoàn Kiếm Hà Nội, đây là một quần thể di tích quốc gia đặc biệt.

   Đền Ngọc Sơn hiện tại đã được xây dựng từ rất lâu khoảng thế kỷ 19, ban đầu có tên là chùa Ngọc Sơn, nhưng vì bên trong đền chỉ thờ Trần Hưng Đạo, các vị anh hùng có công trong thời kì quân Nguyên xâm lược vào khoảng thế kỷ 13 mà không có thờ cúng tượng Phật nên về sau người ta đặt nó là đền Ngọc Sơn.

   Theo sử sách ghi lại, thì trước đây đền còn có tên goi là Ngọc Tượng do vua Lý Thái Tổ trong lúc dời đô ra Thăng Long đã đặt cho nó, về sau nhà Trần lên ngôi lại đổi thành tên như bây giờ Ngọc Sơn.

   Được biết, ở thời Trần đây được xem là nơi dành để thờ cúng, tháp hương cho các vị tướng sĩ, binh lính có công chống phá Mông Nguyên mà không may trên chiến trường, nhưng sau đó thì nơi đây cũng bị sụp đổ do chiến tích của chiến tranh.

   Vào khoảng năm 1735-1739, nơi đây xuất hiện thêm hai quả núi có tên là Đào Tai và Ngọc Bội, nằm ở hai bên bờ phía Đông phía trước đền Ngọc Sơn trong thời chúa Trịnh Giang cai trị.

   Cùng với việc đắp hai quả núi, vua còn xây dựng thêm một cung điện Thụy Khánh uy nghi lộng lẫy, nhưng sau đó bị Lê Chiếu Thống phá hủy trở thành một đống tro tàn.

   Về sau, một người từ thiện có công đức tên là Tín Trai đã đem lòng cung kính, khởi công xây dựng lại từ ngôi đấy cũ này và lập ra chùa Ngọc Sơn trang nghiêm, thanh tịnh. Một thời gian sau, chùa Ngọc Sơn được nhường cho một hội từ thiện để xây dựng sửa sang lại làm nơi thờ cho Tam Thánh.

   Hội đã bỏ đi gác chuông phía trong chùa, thay vào đó là các gian điện chính, các dãy phòng phía hai bên để đặt thờ tượng của Văn Xương đế quân dần dần thay đổi kiến trúc của nó và sau đó là Bước qua cổng thứ hai sẽ có một lối đi nhỏ nối dài dẫn du khách đến Cổng Đài Nghiên vào ngay đến cầu Thê Húc.

   Sau đó sẽ ghé ngang vào lầu Đắc Nguyệt, là một phần trong tổng thể kiến trúc của đền Ngọc Sơn. Lầu được xây dựng quy mô hai tầng, trên tầng hai có hai mái và có hai cửa sổ tròn. Qua lầu Đắc Nguyệt là sẽ đến ngôi đền chính, đây là nơi có sự kết hợp tinh tế giữa 3 lối kiến trúc: Bái Đường, Hậu Cung, Trung Đường, là nơi dành để lập bài vị thờ Tam Thánh và Trần Hưng Đạo. Trước khi bước vào đền Ngọc Sơn sẽ bước qua cổng Nghi Môn.

   Được thiết kế một cách kiên cố, vững chắc bởi bốn cây cột bằng gạch và hai mảng tường lửng phía hai bên tạo nên vẻ tráng lệ, hùng vĩ.

   Ngoài ra, phía trên đỉnh lại được điêu khắc thêm hình của bốn con phượng hoàng chụm đuôi và xòe cánh rộng, còn trên đỉnh hai cột ngoài cùng là hình con nghê trầu, vừa mang tính hiện đại vừa mang sự cổ kính độc đáo ấn tượng đối với du khách.

   Ngoài ra, trên mỗi cột của cổng Nghi Môn đều có khắc những cặp câu đối chữ bằng Tiếng Hán, mang đậm bản sắc dân tộc, vừa giúp khắc họa di tích lịch sử vừa làm nâng cao vẻ đẹp gìn giữ truyền thống của dân tộc.

   Phía cuối ngôi đền sẽ là hậu cung, là khu vực có diện tích khá hẹp so với nơi thờ vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Nằm ở phía xa xa đền Ngọc Sơn sẽ ngắm nhìn được tháp Rùa với nét đẹp cổ kính, thi vị, là biểu tượng nổi tiếng mang dấu ấn lịch sử của thủ đô Hà Nội.

   Về phía nam sẽ có trấn Ba Đình, có mái hình vuông, mái hai tầng và được 8 cột chống đỡ, bốn cột bên ngoài vững chắc bằng đá, còn bốn cột bên trong thiết kế bằng gỗ khang trang, tinh tế.

   Đền Ngọc Sơn, nơi chứa đựng vẻ đẹp mộc mạc bình dị, không chỉ là nơi tâm linh, thiêng liêng mà đến đây du khách còn có thể cảm nhận được bầu không khí yên tĩnh, trang nghiêm, tĩnh lặng giữa sự bộn bề tấp nập của thành phố.

   Đền nằm trong cụm di tích lịch sử lâu đời, văn hóa cấp Quốc Gia gồm tháp Rùa và đền Ngọc Sơn vừa nên thơ, vừa hữu tình.

   Qua một số bài thuyết minh về đền Ngọc Sơn trên, chúng ta cảm thấy sự linh thiêng, bình dị mà nơi đây mang lại. Kiến trúc cổ xưa, tinh tế góp phần tạo nên vẻ đẹp cho ngôi đền này cùng với biểu tượng tháp Rùa mang dấu ấn lịch sử của thủ đô Hà Nội.

Thuyết minh về Hoàng thành Thăng Long

   Có nhiều thư tịch cổ chép về trung tâm hoàng thành Thăng Long xưa với những cung điện nguy nga, tráng lệ trên quy mô to lớn và phát triển liên tục qua các triều đại, nhưng chưa ai có thể định hình ra được nó nằm ở đâu, xây dựng như thế nào, kiến trúc ra sao; bởi tất cả những công trình này đã bị vùi sâu trong lòng đất hàng ngàn năm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Thế rồi cuộc khai quật cổ học tại 18 Hoàng Diệu lần đầu tiên giúp cho giới sử học tận mắt thấy một phần lớn diện mạo kiến trúc hoàng thành Thăng Long thời Lý, thời Trần, thời Lê và nhiều di vật quan trọng khác.

   Từ trước cho đến khi cuộc khai quật khảo cổ này được bắt đầu, trong giới khảo cổ, sử học đã có hai luồng ý kiến về vị trí thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê. Một là trung tâm Thăng Long thời Lý, Trần, Lê là điện Kính Thiên vẫn còn nền móng và các thành bậc chạm rồng và sứ hoa văn thời Lê sơ. Ý kiến cho rằng thành Thăng Long thời Lý, Trần ở phía tây vườn Bách thảo. Vào những năm cuối thế kỉ thứ XX và đầu thế kỉ thứ XXI, giới khảo cổ tổ chức khai quật một số địa điểm như Hậu Lâu, Tràng Tiền, Hàng Dầu, Đoan Môn, Bắc Môn, Văn Miếu, Trần Phú... với mong muốn tìm kiếm các di tích kiến trúc của những cung điện Thăng Long - Hà Nội cổ, nhưng chỉ mới phát hiện được vài dấu tích kiến trúc và một số di vật khác. Chính cuộc khai quật khảo cổ tại số 18 Hoàng Diệu lần này đã mở ra cho giới khảo cổ nhiều triển vọng tìm về trung tâm hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê.

   Qua bóc tách các lớp đất ở độ sâu từ lm trở xuống và dày 2, 3 - 5m đã xuất hiện nhiều dấu vết từ các thời đại sắp chồng lên nhau. Qua các hố khai quật trên một diện tích hơn 14.000m2, các nhà khảo cổ đã làm xuất lộ được gần hết diện tích nền móng của cung điện có chiều dài 62m, rộng 27m (diện tích 1.674m2 với chín gian nhà) thuộc thời Lý, Trần. Cung điện có một hệ thống 40 trụ móng cột được xử lý rất kiên cố bằng sỏi và gạch ngói. Đã có thể hình dung rõ hơn về diện mạo kiến trúc cung điện này, nhóm khảo cổ đã mời 40 công nhân đứng trên 40 trục móng, lúc này họ mới hình dung được quy mô của cung điện. Tại hố khai quật A1 còn tìm thấy hệ thống móng trụ của thủy đình ven sông... Điều đáng ngạc nhiên hơn, tại đây đã phát hiện ra một giếng nước thời Lý xây gạch đường kính 68cm, sâu 2,5m cùng với hai giếng nước thời Lê. Một điều cũng gây ngạc nhiên và khá lý thú không chỉ đối với khảo cổ học mà còn với những nhà xây dựng hiện nay, đấy là qua các hố khai quật có thể thấy những hệ thống cống thoát nước gần 1.000 năm vẫn còn khá nguyên vẹn.

   Ở khu vực Hà Nội chưa có cuộc khai quật khảo cổ nào lại mang đến một số tượng di vật lớn và có giá trị như cuộc khai quật này. Tổng số di vật ước tính khoảng hơn 3 triệu, chủ yếu là gạch, ngói và đồ gốm trang trí kiến trúc. Có đến hàng ngàn viên gạch xây cung điện, lầu gác ở Thăng Long, trong đó đáng chú ý là các viên gạch có khắc chữ Hán "Đại Việt quốc dân thành chuyên" để nói rõ là gạch xây kiến trúc của nước Đại Việt thời Lê, gạch "Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo", là gạch xây cung điện nhà Lý năm 1057; gạch "Vĩnh Ninh trường" xây dựng các cung điện thời Trần; gạch "Tam phụ quân, Tráng phong quân"... chỉ dùng xây dựng các kiến trúc thời quân đội thời Lê Thánh Tông. Các tượng rồng, phượng cỡ lớn cũng được tìm thấy với kích thước khá lớn, cao gần đầu người, chứng tỏ các kiến trúc thời Lý, Trần, Lê ở đây được xây dựng rất công phu và đẹp đẽ. Trong một hố khai quật khác, đã phát hiện ra các loại gốm sứ cao cấp với các biểu trưng chỉ dành riêng cho nhà vua như hình rồng năm móng và chữ "Quan", do Việt Nam tự sản xuất với kỹ thuật cao và đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức bằng kim loại đen, kim loại màu, cùng loại có ánh vàng cũng được phát hiện.

   Mặc dù cuộc khai quật sẽ còn tiếp diễn với hàng ngàn mét vuông trong khu vực nhưng qua các di tích kiến trúc được tìm thấy, các nhà khảo cổ học bước đầu nhận định; toàn bộ các di tích đã phát hiện nằm trên quy hoạch mặt bằng tổng thể của một khu vực khoảng 40.000m2 ở phía Tây hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê. Thời kì tiền Thăng Long đây là trung tâm thành Đại La. Thời kì Lý, Trần có thể là điện Càn Nguyên (hay còn gọi là điện Thiên An) và thời Lê đây là cung điện của một vị hoàng hậu của vua Lê Thánh Tông.

   Bộ Văn hóa - Thông tin, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Hội Khoa học lịch sử VN đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học để tìm giải pháp bảo vệ và phát huy các di tích vừa được phát hiện. Trong một cuộc họp mới đây do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia tổ chức, đại đa số các nhà khoa học tìm đồng tình kiến nghị cần được tiếp tục khai quật mở rộng, cuộc khai quật chỉ mới được tiến hành trên một nửa diện tích, cho nên chưa có thể đánh giá được một cách đầy đủ về các di tích đã phát lộ, đặc biệt là trung tâm chính của hoàng thành Thăng Long cổ xưa.

Hoàng thành Thăng Long
 

Thuyết minh về Lăng Bác

   Chiến tranh đã đi qua gần nửa thế kỉ nhưng nỗi xót thương và niềm yêu kính của mỗi người dân Việt Nam dành cho Bác Hồ – vị Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam – chưa bao giờ nguôi cạn. Nhớ đến người, những dòng người hướng về lăng Bác tưởng như không bao giờ dừng lại.

   Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và quần thể lăng gồm quảng trường Ba Đình, khu nhà sàn, vườn cây,... sau hai năm xây dựng, ngày 19/8/1975 đã được khánh thành.

   Mặt chính của lăng nhìn ra hướng đông là Quảng trường Ba Đình. Lăng gồm ba lớp với chiều cao 21,6 mét. Lớp dưới kết cấu bậc nhiều cấp, có lễ đài dành cho đoàn chủ tịch khi mít tinh. Phần giữa là kết cấu trung tâm của lăng, gồm phòng thi hài, hành lang, cầu thang lên xuống. Phần trên là mái lăng được tạo dáng cách điệu bông sen nở. Mặt chính lăng có dòng chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh" bằng đá hồng ngọc màu mận chín.

   Lăng là nơi lưu giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Cha già dân tộc, người đã được UNESCO tặng danh hiệu Danh nhân Văn hóa thế giới và Anh hùng giải phóng dân tộc nhân kỷ niệm 100 ngày sinh (1890 – 1990).

   Công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả lao động sáng tạo của nhiều nhà khoa học và công nhân hai nước Việt Nam – Liên Xô tỏ lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh và là sản phẩm của tình hữu nghị Việt – Xô.

   Lăng Bác quay về hướng Đông để đón ánh mặt trời, trước cửa lăng là quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi đây, ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã chứng kiến những giờ phút thiêng liêng nhất của dân tộc khi Hồ Chí Minh đứng trước quốc dân đồng bào đọc "Tuyên ngôn Độc lập" công bố với thế giới nền độc lập lâu bền của dân tộc Việt Nam ta. Quảng trường Ba Đình dài 320m, rộng 100m, chia thành 240 ô cỏ xanh tươi là hình tượng những chiếc chiếu trải trên sân đình ở các làng quê Việt Nam xưa, là nơi nhân dân đến dự các buổi lễ trọng thể. Phía tây của Quảng trường là khu lưu niệm Hồ Chủ tịch. Tại đây còn có Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn là nơi ở của Người, hồ cá, vườn cày, rặng dừa, những hàng rào dâm bụt. Tất cả đã đi vào thơ ca Việt Nam:

"Anh dẫn em vào cõi Bác xưa
Vườn xoài hoa trắng nắng đu đưa
Có hồ nước lặng sôi tôm cá
Có bưởi cam thơm mát bóng dừa".

(Tố Hữu)

   Trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường hẹp trải sỏi, hai bên trồng xoài dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn bình dị, nằm giữa những vòm cây. Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau. Đó là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17-5-1958 cho tới khi Người qua đời. Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ Chính trị. Tầng trên là hai phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật dụng đơn sơ giản dị. Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa phong lan nở quanh năm.

   Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi biếu Bác nàm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vần Du, Xã Đoài; quýt Hương Cần, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ, song mai Đông Mỹ; hồng Tiên Điền (quê hương nhà thơ Nguyễn Du). Trong vườn còn có cả những loại cây từ nước ngoài như ngàn hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ Caribê...

   Nhân dân từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng lăng, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh Quảng trường Ba Đình lịch sử. Nhắc đến lăng Bác, lòng người lại rưng rưng trong niềm thương nhớ:

"Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dăng bảy mươi chín mùa xuân"

(Viếng lăng Bác — Viễn Phương)

Thuyết minh về Hồ Tây

Anh về đây Hà Nội một chiều đông
Chiều Hồ Tây với mênh mông nỗi nhớ
Đông đã về lăn tăn con sóng nhỏ
Người bên người mặc cho gió bấc lay…

   Chỉ đọc vài câu thơ là ta đã thấy hồ Tây thật thơ mộng và hữu tình đúng không nào? Nếu đã là người con của Hà Nội thì chắc hẳn sẽ biết về hồ này.

   Hồ Tây là một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội, đây cũng được coi là một sân khấu đặc biệt, kết hợp giữa mây trời và cảnh quan thành phố.

   Hồ Tây, còn có tên hồ Mù Sương (Dâm Đàm), hồ Trâu Vàng (Kim Ngưu hồ), Đầm Xác Cáo,Tây Hồ, là hồ lớn nhất ở nội thành Hà Nội (với diện tích hơn 500 ha).

   Con đường đi vòng quanh hồ dài tới 17 km. Hồ nằm ở phía tây bắc Hà Nội. Ngành địa lý lịch sử đã chứng minh rằng Hồ Tây trước đây chính là một đoạn của sông Hồng. Trải qua quá trình ngưng đọng và đổi dòng của sông, hồ đã trở thành hồ nước tự nhiên lớn nhất trong khu vực nội thành Hà Nội.

   Hồ có từ thời nhà Lý, Trần. Nơi đây được các vua xây dựng các cung điện để giải trí và nghỉ mát, có thể kể đến như: Điện Hàm Nguyên đời nhà Trần, Cung Từ Hoa đời nhà Lý, nay là khu chùa Trần Quốc và Kim  Liên.

   Xung quanh Tây Hồ có nhiều di tích văn hóa lịch sử như: Làng Nghi Tàm, chùa Kim Liên với kiến trúc độc đáo và  là quê hương của bà Huyện Thanh Quan. Làn Xuân La là nơi thờ bà tổ nghề dệt lĩnh Phạm Thị Ngọc Đô, còn phủ Hồ là nơi để thờ Liễu Hạnh Công chúa. Đường Thanh niên, trước gọi là đường Cổ Ngư, hình thành từ một con đê hẹp đắp ngăn một góc Hồ Tây.

   Vào những ngày đẹp trời, rất đông người dân Hà Nội đi dạo quanh hồ hoặc chèo thuyền thưởng ngoạn cảnh đẹp. Ngoài ra còn các di tích văn hóa khác có thể kể đến như: Làng Nhật Tân, Làng Kẻ Bưởi,…

   Ngoài ra, Hồ Tây cũng rất đặc biệt, dưới đáy hồ có nhiều nghĩa địa cổ. Nhưng tại sao, những ngôi mộ lại nằm ở giữa hồ? Chẳng lẽ, phong tục người dân ven hồ đem người chết ra giữa hồ chôn sao? Xưa kia, Hồ Tây chỉ là một nhánh cụt của sông Hồng, không rộng tới 560 ha và chứa tới 8 triệu mét khối nước như hiện nay.

   Bên Hồ Tây có hàng chục làng mạc cổ, cánh đồng, ruộng vườn bám ở mép hồ và cũng có hàng chục cái nghĩa địa, để chôn cất những người trong làng, hoặc chôn người chết ở các làng phía trong bãi.

   Trong sử sách cũng chép, thời Lê, khi đánh nhau với quân Chăm-pa, bắt được tù binh, đều tạo điều kiện cho họ lập kế sinh nhai bằng cách khai hoang vùng đất rậm rạp, heo hút quanh Hồ Tây. Người Chăm-pa sinh sống lâu ngày, lập lên những ngôi làng đặc thù quanh Hồ Tây suốt hàng trăm năm trời.

   Sống ven hồ, chết cũng ở ven hồ, nên dưới đáy Hồ Tây, có thể vẫn còn hàng ngàn ngôi mộ. Tuy nhiên, thời gian đã quá lâu, lớp bùn đất bồi lấp, dìm những nghĩa địa này xuống dưới sâu.

   Hồ Tây có gì? Hồ Tây có bình yên, sự bình yên hiếm hoi giữa Hà Nội tấp nập này. Sáng sớm ở hồ Tây thường có sương mù, nhất là vào mùa đông, mùa xuân. Nước hồ Tây buổi sáng xao động rất nhẹ, mặt hồ gần như phẳng lặng vì yên gió.

   Xung quanh hồ là những người tập thể dục, đạp xe đạp rất đông. Ai cũng muốn hít thở một bầu không khí mát mẻ, trong lành ở nơi không gian rộng mở thoáng đãng. Buổi trưa, hồ Tây bước vào thế giới của khoảng lặng.

   Kể cả những nơi luôn đông đúc và nhộn nhịp như phủ Tây Hồ cũng rất ít người ở lại. Vào những chiều mưa giông thì hồ Tây cũng không khác mặt biển là mấy. Gió ào ạt trên một khoảng không gian rộng lớn không bị ngăn cản, nước hồ chồm cao một vài gang tay như sóng biển. Tiếng sóng vỗ cũng dạt dào như những nỗi niềm gửi gắm đâu đây…

   Những hôm thời tiết yên bình thì chiều muộn trên hồ Tây có một màu sắc rất lạ. Khi vầng mặt trời đỏ rực còn đang  chuẩn bị rút vào màn đêm thì mặt hồ có một màu đỏ bạc pha ánh sáng, lấp loáng mờ ảo.

   Còn đêm hồ Tây bao giờ cũng có khoảng lãng mạn dành cho lứa đôi, những khách sạn cao tầng hắt sáng xuống để mặt hồ không quá tối tăm. Những nhà hàng, quán cà phê lung linh ánh đèn. Những đôi lứa yêu nhau vừa ngồi tận hưởng mùa hạnh phúc, vừa yên tâm hít thở khí trời.

   Hồ Tây ngày nay còn là lá phối xanh của thành phố. Hồ Tây không chỉ đẹp  bởi mặt nước xanh mênh mông, mà còn là vẻ đẹp thơ mộng bởi sắc tím của hoa bằng lăng, vẻ rực rỡ của những cánh hoa phượng hồng mỗi độ hè về.

   Mặt nước hồ luôn phảng phất những làn gió mát, khiến tâm hồn con người thêm thư thái. Với không gian như thế, hồ Tây thực sự là nơi đến thư giãn của nhiều người Hà Nội.

   Có người tìm cho mình một góc ở bên hồ để hóng gió, nhâm nhi ly cà phê trong một quán ven đường, thưởng thức món bánh tôm nổi tiếng, hay chỉ ăn một ly kem và ngồi trò chuyện với bạn bè.

   Như một điểm đến lý tưởng, hồ Tây trở thành nơi gắn bó đời sống tinh thần của người Hà Nội. Hiện nay hồ Tây đang là một trong những nơi tìm năng và có khả năng thay thế vị trí trung tâm hiện tại của Hồ Gươm.

   Hồ Tây bao giờ cũng vọng lên trong tâm tưởng người Hà Nội như một nơi lưu giữ những kỷ niệm. Những đền chùa cổ kính uy nghiêm, những hàng cây xanh tỏa bóng mát và mặt nước hồ lúc thì yên bình lúc thì cồn cào sóng vỗ.

   Một khoảng lặng yên bình, thơ mộng và đằm sâu văn hóa kinh kỳ. Hồ Tây là thiên nhiên hoa cỏ, là cá tôm chim trời, là cuộc sống muôn màu trong lòng một thành phố có ngàn năm tuổi…

   Và hồ Tây là cả những bí ẩn rất đáng để trân trọng và ghi nhớ vì toàn bộ các di tích lịch sử văn hóa ở ven bờ đều chọn hướng cửa chính trông ra lòng hồ!

   Nếu có dịp tại sao bạn không tìm lại sự bình yên cho bản thân ở Hồ Tây nhỉ? Chắc chắc bạn sẽ hài lòng lắm đấy.  

Hồ Tây

Thuyết minh về Chùa Một Cột

   Chùa Một Cột là công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với những giá trị về văn hóa, lịch sử của dân tộc. Chùa Một Cột không chỉ được đánh giá là ngôi chùa có kiến trúc nghệ thuật độc nhất ở Việt Nam cũng như Châu Á mà còn được biết đến là điểm đến tâm linh, trở thành biểu tượng văn hóa ngàn năm của thủ đô Hà Nội.

   Chùa Một Cột còn có tên gọi khác là Diên Hựu Tự hoặc Liên Hoa Đài, ngôi chùa nổi tiếng bởi kiến trúc xây dựng rất độc đáo, toàn bộ chùa được xây dựng trên một cột trụ bằng đá cao khoảng 4m. Ngôi chùa được khởi công xây dựng vào thời Lý trên đất thôn Thanh Bảo thuộc huyện Quảng Đức và nằm ở phía Tây của Hoàng Thành Thăng Long xưa. Ngày nay chùa nằm ở phố Chùa Một Cột, cạnh Quảng trường Ba Đình - Lăng Chủ Tịch.

   Chùa Một Cột được xây dựng dựa theo cảm hứng từ giấc mộng của vua Lý Thái Tông. Trong mơ vua thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên đài hoa sen và được mời lên đài. Khi tỉnh dậy vua kể lại giấc mơ cho triều thần nghe và được nhà sư Thiên Tuế khuyên nên xây chùa. Vì vậy vào mùa đông năm 1049 vua Lý Thái Tông cho xây dựng chùa. Để tạo nên chùa Một Cột Vua đã cho dựng một cột đá giữa hồ và xây đài hoa sen có tượng Bồ Tát Quan Thế m ở trên.

   Sau khi dựng chùa, vua Lý Anh Tông thường lui tới cầu phúc và làm việc thiện vậy nên ít sau đó hoàng hậu mang thai sinh ra một hoàng tử tuấn tú. Nhờ sự ra đời thần kì của hoàng tử mà vua đã coi đó là ân huệ mà trời đất ban cho nên đã cho xây một ngôi chùa khác bên cạnh chùa một cột để tạ ơn. Cụm di tích này được đặt tên Diên Hựu Tự với mong muốn "phước lành dài lâu".

   Vì muốn trùng tu lại chùa nên năm 1105 vua Lý Nhân Tông cho người xây dựng lại và dựng thêm hai tháp lợp sứ trắng trước sân. Ba năm sau Nguyên Phi Ỷ Lan lệnh cho người đúc "Giác thế chung" để thức tỉnh lòng thế nhân.Chùa Một Cột là di tích lịch sử có giá trị nghệ thuật và được đánh giá cao không chỉ trong nước mà còn trên thế giới. Thật vậy, vào năm 1962 chùa đã được công nhận là Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật Quốc gia và đến năm 2012 chùa Một Cột đã xác lập kỷ lục là "Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Châu Á" bởi tổ chức Kỷ lục châu Á.

   Chùa Một Cột được mệnh danh là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo một không hai bởi chùa Một Cột mang dáng vẻ của một đóa sen lớn đang vươn mình khỏi mặt nước, hình tượng bông sen gợi cho người ta sự thuần khiết cao quý, sáng trong thuần túy. Toàn bộ không gian chùa được đặt trên một trụ đá cao 4 mét do hai khối đá cấu thành hợp với nhau có đường kính 1,2 mét dưới hồ Linh Chiểu. Ao nước phía dưới chùa được bao quanh bởi lan can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh với những họa tiết hình khối. Mái chùa lợp ngói cổ với theo kiểu hình đao cong vút và trên đỉnh đắp hình rồng thể hiện sức mạnh thần thánh, quyền uy lẫm liệt.

   Chùa Một Cột đã trở thành một trong những biểu tượng mang đậm tính dân tộc, là địa điểm tham quan nổi tiếng của thủ đô Hà Nội. Chùa không những nổi tiếng trong nước mà còn được rất nhiều khách tham quan, du lịch quốc tế tìm đến để tham quan, thưởng thức nét đẹp độc đáo đậm chất văn hóa bản sắc dân tộc.

Chùa Một Cột

Thuyết minh về Văn Miếu Quốc Tử Giám

   Văn Miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích tiêu biểu của thành phố Hà Nội nói riêng và miên Bắc nói chung. Hãy viết bài văn thuyết minh về quần thể di tích trên.

   Thăng Long - Hà Nội là Thủ đô ngàn năm văn hiến, nơi quy tụ tinh hoa, khí phách dân tộc. Trải qua bao thăng trầm, nhiều giá trị văn hóa lịch sử lắng đọng dẩn tạo nên chất riêng của kinh đô hơn ngàn tuổi. Trong đó, phải kể đến biểu tượng của trí tuệ và truyền thống giáo dục nước nhà, đó là quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường đại học đẩu tiên của nước ta.

   Với vẻ đẹp cổ kính, quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám tọa lạc giữa Thủ đô tại đường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa như một chứng nhân lịch sử vô giá của thành phố Hà Nội. Quẩn thể di tích nằm giữa bốn phố chính gồm Nguyễn Thái Học, Tôn Đức Thắng, Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Để có được quần thể di tích như hiện nay, Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã trải qua nhiều biến động cùng với Thủ đô ngàn năm văn hiến.

   Về lịch sử, Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070 với mục đích ban đẩu là thờ những vị Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho và là nơi dạy học cho Thái tử Lý Càn Đức. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc Tử Giám cạnh Văn Miếu để dạy học cho hoàng tử và con em quý tộc, đại thẩn. Sang đời Trần, nơi đây thu nhận thêm những con em thường dân xuất sắc. Cùng với sự tham gia của thẩỵ giáo Chu Văn An, Văn Miếu Quốc Tử Giám ngày càng trở nên quỵ củ hơn. Sau khi mất, ông cũng được thờ tự tại Văn Miếu. Thời nhà Lê bắt đẩu từ vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ. Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử Giám chuyển vể Huế. Văn Miếu - Hà Nội được sửa sang lại một lần và mở rộng thêm ban thờ phụ mẫu của Khổng Tử. Tuy nhiên, đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn làm sập căn nhà. Những công trình kiến trúc hiện tại của 

   Văn Miếu - Quốc Tử Giám được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nển đất của Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

   Quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám có cấu trúc rất rõ ràng thuận tiện cho du khách tham quan từ Văn Hổ, Vườn Giám đến khu nội tự Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Trước khi vào tham quan, du khách sẽ được ngắm cảnh Hồ Văn hay còn gọi là Hổ Giám, hồ Minh Đường, nằm ngay trước cổng vào. Hổ nước trong xanh tạo tâm thế tĩnh lặng cho người xem trước khi bước vào quần thể di tích. Giữa hồ có gò Minh Châu, dựng Phán Thủy đường - nơi văn nhân thời xưa bình thơ văn. Bên cạnh hồ là khu đất trống thường được tổ chức các sự kiện mà tiêu biểu là lễ hội Thư pháp đầu năm.

   Đối diện với Hổ Văn là Văn Miếu môn - cổng tam quan dẫn vào quẩn thể di tích. Nhìn từ bên ngoài, Văn Miếu môn có ba cửa vào nhưng nếu bước qua cánh cổng và nhìn từ bên trong lại là năm cửa. Theo quan niệm thời xưa, cổng năm cửa dành cho thiên tử sử dụng, còn vương hầu chỉ làm cổng ba cửa, nhà thường dân làm một cửa. Với cách làm cổng như vậy, Văn Miếu môn thể hiện quan niệm rất rõ của triều đại phong kiến Việt Nam trong đế ngoài vương. Tuy nhận sắc phong xưng vương từ Trung Quốc nhưng bên trong, Đại Việt là đất nước độc lập và hoàn toàn bình đẳng với các quốc gia khác. Quan niệm này không chỉ chi phối kiến trúc cổng của Văn Miếu mà thể hiện ở cả đại nội kinh thành Huế.

   Bước qua Văn Miếu môn là quần thể di tích khép kín trong khuôn viên hình chữ nhật chia thành các khu vực riêng được ngăn cách bằng các cổng như Đại Trung môn, Khuê Văn các, Đại Thành môn. Cả khuôn viên được bao kín bằng tường ngang cách biệt quần thể với bên ngoài. Chạy dọc bên tường ở phần khu Nhập đạo giữa Văn Miếu môn và Đại Trung môn, giữa Đại Trung môn và Khuê Văn các là con đường thảm cỏ, cây xanh tươi mát cùng hai hổ nước nhỏ hai bên. Không gian trở nên yên bình, quang đãng và dễ chịu khác hẳn với không khí náo nhiệt, ổn ào và bụi bặm của đường phố bên ngoài. 

   Khuê Văn các là một nét kiến trúc đặc biệt trong quần thể di tích. Đây là một lẩu vuông tám mái, bao gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ rất hài hòa và độc đáo. Tầng dưới là bốn trụ gạch vuông có chạm trổ hoa văn tinh vi và sắc sảo. Khuê Văn các vốn là nơi tụ họp bàn luận của văn nhân thời xưa. vẻ đẹp của Khuê Văn các được thể hiện ngay trong ý nghĩa cái tên của nó, căn lầu mang vẻ đẹp của ánh sao Khuê.

   Ngay sau Khuê Văn các là Thiền'Quang tỉnh (giếng soi sáng bầu trời) và hai bên là tám mươi hai bia tiến sĩ. Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng. Người xưa có quan niệm giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời. Tinh hoa của cả trời và đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Mỗi bên bờ giếng dựng bốn mươi mốt tấm bia tiến sĩ ghi nhận thành quả học tập của các tấm gương thời xưa. Người đẩu tiên được vinh danh là Nguyễn Trực - trạng nguyên đẩu tiên nhà Hậu Lê, cũng là Lưỡng quốc Trạng nguyên lỗi lạc của dân tộc. Những bia tiến sĩ được cõng trên lưng những chú rùa bởi rùa vốn được xem là biểu tượng cho vũ trụ - mai rùa tượng trưng cho trời, bụng rùa tượng trưng cho đất. Rùa cũng mang ý nghĩa của sự kiên trì, bền bỉ và sự trường tổn, vĩnh cửu. Những tấm bia tiến sĩ khắc tên những con người tài giỏi, tinh hoa của đất trời, với mong muốn vinh danh nhân tài, đê' cao học vấn, khích lệ người tài phấn đấu vươn lên. Tám mươi hai tấm bia tiến sĩ đã được Unessco công nhận là di sản tư liệu thế giới thuộc chương trình “Kí ức thế giới” vào năm 2010. Những tấm bia tiến sĩ không những trở thành biểu tượng cho con đường học vấn, cho nền giáo dục nước nhà mà còn trở thành niềm cảm hứng vươn đến đỉnh cao trí tuệ cho tất cả những bạn trẻ đến nơi đây.

   Qua Đại Thành môn, nơi linh thiêng nhất của quẩn thể di tích mở ra là khu điện thờ các bậc tổ đạo Nho và danh nhân có công phát triển Văn Miếu.

   Khu Thượng điện có chín gian, tường xây ba phía, phía trước có cửa bức bàn đóng kín năm gian giữa. Bốn gian đầu hồi có cửa chấn song cố định tạo cho nơi đây một không khí thâm nghiêm, u tịch khiến du khách càng thêm kính ngưỡng những vị danh nhân thời xưa. Nơi đây thờ Khổng Tử chính giữa, bên trái có hai ngai thờ Tăng Tử và Mạnh Tử, bên phải có hai ngai thờ Nhan Tử và Tử Tư. Tòa Đại Bái bên ngoài cũng xây chín gian có chức năng hành lễ trong những kì tế tự xuân thu. Chỉ gian chính giữa có hương án thờ còn các gian khác đều bỏ trống. Sau đó là đền Khải Thánh - nơi thờ phụ mẫu của Khổng Tử.

   Phần cuối cùng của quần thể di tích là Tiền đường - Hậu đường. Tiền đường trưng bày về truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo. Đây cũng là nơi tổ chức các hội thảo khoa học và các sự kiện văn hoá nghệ thuật quan trọng của quốc gia. Hậu đường có kiến trúc hai tầng. Tầng dưới thờ Tư nghiệp Quốc Tử Giám (tương đương với Phó Hiệu trưởng) Chu Văn An. Đây là nơi trưng bày vê' Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long nói riêng và nển giáo dục Nho học Việt Nam nói chung. Đổng thời, nơi đây giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cùng những giá trị sâu sắc của truyền thống hiếu học, đê' cao nhân tài, thừa kế và phát huy di sản văn hoá dân tộc. Tầng hai là nơi tôn thờ các danh nhân có công xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục Nho học của Việt Nam. Đó là các vpVua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông.

   Văn Miếu - Quốc Tử Giám có giá trị nhiều mặt, đây vừa là di tích văn hóa, lịch sử, giáo dục, vừa là thắng cảnh nổi tiếng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Vượt lên trên những giá trị vật chất, quẩn thể di tích này đã trở thành biểu tượng không thể thay thế cho tinh thẩn hiếu học và trí tuệ của dân tộc Việt Nam.

   Tham quan trọn vẹn quần thể di tích, du khách được quay ngược thời gian trở vê' với sự phát triển của nển giáo dục Nho học hưng thịnh một thời của đất kinh kì. Văn Miếu - Quốc Tử Giám là cái nôi đào tạo nhiều nhân tài cho Nhà nước phong kiến Việt Nam, là nơi chủng kiến và ghi dấu thành công của biết bao danh nhân đất Việt. Nơi đây thực sự là một không gian học thuật, lịch sử để người người tìm vê' như một cách tri ân, nối tiếp truyền thống hiếu học của cha ông.

   Tham khảo thêm mẫu dàn ý và tuyển chọn các bài văn thuyết minh về Văn Miếu Quốc Tử Giám đặc sắc nhất.

Văn Miếu Quốc Tử Giám
 

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở TP Hồ Chí Minh

Các danh lam thắng cảnh tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thuyết minh về chợ Bến Thành

   Chợ Bến Thành ở Sài Gòn trước khi bị Pháp xâm chiếm năm 1859 là một chợ nhỏ nằm ở khu đất đồng lầy kề bên bờ sông Bến Nghé và sát thành Sài Gòn. Từ đó mà chợ đã mang tên ghép là Bến Thành. Chợ Bến Thành được xây bằng gạch, khung gỗ, lợp tranh. Năm 1870, chợ bị cháy một phần. Năm 1911, chợ cũ bị phá đi, chợ mới được xây khang trang rộng rãi hơn và hoàn thành vào tháng 3/1914.

   Sau năm 1975, chợ Bến Thành lại được đầu tư nâng cấp to đẹp lên rất nhiều so với trước. Năm 1985, chợ Bến Thành được sửa chữa lại toàn bộ bên trong, bên ngoài, duy chỉ có dáng vẻ phía trước với tháp đồng hồ được giữ lại như xưa. Hình ảnh chợ Bến Thành với tháp đồng hồ thường được dùng làm biểu tượng cho thành phố.

   Trải qua nhiều năm thăng trầm của lịch sử, chợ Bến Thành vẫn là một trong những trung tâm mua sắm bậc nhất tại Hồ Chí Minh. Chợ Bến Thành là một thị trường nhộn nhịp cả ngày lẫn đêm, chợ Bến Thành được xem là một biểu tượng, điểm đến vô cùng thú vị cho không chỉ du khách quốc tế mà còn cả với người dân địa phương. Dạo quanh, mua sắm, khám phá chợ Bến Thành từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong những tour du lịch miền tây kết hợp du lịch Sài Gòn.

   Chợ Bến Thành nổi tiếng là khu trung tâm mua sắm có vị trí đắc địa, cửa ngõ giao thoa của thành phố, nằm giữa đại lộ Hàm Nghi, Trần Hưng Đạo. Đây là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giao lưu và thương mại diễn ra sôi động, nhộn nhịp. Chợ Bến Thành có tới bốn cửa chính với Cửa Nam (cửa chính) nhìn ra quảng trường Quách Thị Trang, cửa Bắc phía đường Lê Thánh Tôn, cửa Ðông phía đường Phan Bội Châu và cửa Tây hướng ra đường Phan Chu Trinh.

   Theo kinh nghiệm du lịch Sài Gòn, đến với chợ Bến Thành du khách có thể tìm thấy gần như hầu hết mọi thứ từ thông dụng đến hiếm có, từ bình dân đến cao cấp như thực phẩm, quần áo, trang sức, vật dụng, gia vị, quà lưu niệm, đồ điện tử… với chất lượng tốt.

   Bên cạnh những món quà lưu niệm, thời trang, đến chợ Bến Thành bạn sẽ thích thú khi được khám phá khu vực ẩm thực với hàng trăm món từ mọi miền của đất nước như phở Hà Nội, bánh bèo Huế, hủ tiếu Mỹ Tho, chả giò, các món bún, bánh xèo.

   Chợ Bến Thành đã trở thành một trong những biểu tượng du lịch của thành phố Hồ Chí Minh. Điểm du lịch hấp dẫn luôn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan và mua sắm.

Chợ Bến Thành

Thuyết minh về nhà thờ Đức Bà

Mỗi thành phố đều mang trong mình nét đẹp riêng với những công trình, kiến trúc, di tích, thắng cảnh riêng. Nếu Hà Nội nổi tiếng với phố cổ thì Hồ Chí Minh lại thu hút du khách đến nhà thờ Đức Bà. Với kiến trúc độc đáo, ẩn chứa ý nghĩa lịch sử và tôn giáo sâu sắc, nhà thờ Đức Bà đã trở thành một di tích thắng cảnh đặc trưng của Sài Gòn ngày nay. 

Tọa lạc tại số 1, Công xã Pari, phường Bến Nghé, giữa trung tâm Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, Nhà thờ Đức Bà đồ sộ với kiến trúc cổ của Pháp, không gian thông thoáng với cây xanh tươi mát, là một trong những biểu tượng tiêu biểu của Sài Gòn.

Về nguồn gốc lịch sử, Nhà thờ được xây dựng cách đây đã nhiều năm. Năm 1960, sau khi chiếm Sài Gòn, Pháp cho sửa lại một ngôi chùa của người Việt bị bỏ hoang ở đường số 5 thànhnhà thờ để làm nơi cử hành Thánh Lễ cho người theo đạo Công giáo. Sau đó, qua từng năm phụ thuộc vào nhu cầu mở rộng, nhà thờ ban đầu được cải tạo và xây dựng lớn hơn, cầu kỳ hơn. Đến tháng 8/1876, thống đốc Nam Kì Duperre đã tổ chức một cuộc thi đồ án thiết kế kiến trúc cho một nhà thờ mới. Kiến trúc sư J.Bourad giành chiến thắng với bản thiết kế mang phong cách kiến trúc Roma cải biên pha lẫn đặc trưng Gothic. Ông chính là người xây dựng lên nhà thờ sau này. Công trình của J.Bourad khởi công từ 10/1977 đến 4/1880, khi hoàn thành có tên là nhà thờ Nhà Nước vì được nhà nước đầu tư và xây dựng. Tháng 2/1959, bức tượng Đức Mẹ được tạc tại Pietrasanta mang đến đặt phía trước nhà thờ, nhà thờ đổi tên là nhà thờ Đức Bà cái tên đó vẫn duy trì cho đến hôm nay.

Với thiết kế đặc biệt, khu vực nhà thờ được đánh giá là nơi đẹp nhất thành phố Hồ Chí Minh. Nó nằm giữa quảng trường, không hề có hàng rào che chắn và khuôn viên bên cạnh, không bị che khuất bởi các công trình kiến trúc khác, có góc nhìn tuyệt đẹp từ mọi phía, thực sự là điểm nhấn nổi bật giữa không gian đô thị. Mặt trước thánh đường là một công viên (Công trường Công xã Paris) với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá, gần đó là Bưu điện Sài Gòn. Ở trung tâm công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa Bình. Tượng có thế đứng thẳng, tay cầm Qủa Địa Cầu có đính cây thánh giá, đôi mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời xanh như đang nguyện cầu. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn.Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng đồng với hàng chữ Latinh: “REGINA PACIS - ORA PRO NOBIS - XVII. II. MCMLIX. Nghĩa là: NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH - CẦU CHO CHÚNG TÔI - 17.02.1959”. Giữa hai tháp chuông trước đó, dưới mái có một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ loại lớn, đến tận hôm nay vẫn chạy và chỉ giờ chính xác. Vào đêm vọng Lễ Giáng Sinh, tiếng chuông sẽ ngân vang.

Gần 140 năm đã qua đi nhưng nhà thờ Đức Bà vẫn đứng vững, thách thức với sự tàn phá của thời gian. Nhà thờ được thiết kế theo dạng thánh thất Basilica với mặt bằng hình chữ thập dài, gồm một gian lớn ở chính giữa, hai hành lang cánh và hậu cung hình bán nguyệt, mang đậm kiến trúc La Mã. Bên ngoài cải tiến với cuốn vòm gãy mang đặc trưng Gothic. Bên trong có kết cấu vòm thép hiện đại chống đỡ cả công trình. Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn - Gia Định lúc ấy và bây giờ.

Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Toàn bộ thánh đường dài 93m, có 56 ô cửa kính với những họa tiết tinh xảo. Trên cửa mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Chiều ngang nơi rộng nhất là 35 m. Chiều cao của vòm mái thánh đường là 21 m. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người, không gian thông gió. Tuy không rộng lớn bằng các công trình khác nhưng thánh đường nhà thờ Đức Bà được xem là kiến trúc độc đáo và đẹp nhất trong các công trình tại thuộc địa Pháp lúc bấy giờ.

Toàn bộ chất liệu xây dựng và các phụ kiện kim khí khác đều được chuyển từ Pháp sang. Bề mặt công trình được ốp hết bằng gạch trần và đá xanh, được tính toán tỉ mỉ, chính xác đến từng đường nét. Thời gian trôi đi, một vài bộ phận bị xuống cấp, hư hại và được thay thế bằng vật liệu trong nước, tuy nhiên vẫn đảm bảo được tính thẩm mĩ ban đầu của nó. Kiến trúc thánh đường đã tạo nên hiệu ứng ánh sáng tuyệt vời trong nội thất, mang đến cho con người cảm giác thanh thản, yên tĩnh và trang nghiêm. 

Nhà thờ Đức Bà có giá trị đặc biệt. Nhà thờ được đánh giá là công trình văn hóa, tinh thần hài hòa kiến trúc Đông – Tây, truyền thống và hiện đại. Sự hòa hợp giữa kiến trúc và khung cảnh xung quanh cùng với phong cách độc đáo đã giúp nhà thờ Đức Bà trở thành công trình kiệt tác của lịch sử, tiêu biểu cho vẻ đẹp thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đây là điểm đến quen thuộc của giới trẻ đất Sài Thành, là địa điểm nằm trong danh sách ghé thăm đầu tiên của khách du lịch trong và ngoài nước khi lần đầu đặt chân đến Hồ Chí Minh. 

Năm tháng cứ trôi đi, nhà thờ Đức Bà vẫn kiên cường đứng vững giữa lòng thành phố, trở thành một biểu tượng cho chốn Sài Thành sầm uất, đồng thời cũng trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây.

nhà thờ Đức Bà

Thuyết minh về Dinh Độc Lập

   Nhắc đến thủ đô Hà Nội sẽ phải biết đến Quảng trường Ba Đình lịch sử, còn nhắc đến thành phố Hồ Chí Minh sẽ phải biết đến công trình kiến trúc đặc trưng, di tích, địa danh đi vào lịch sử giải phóng dân tộc như Dinh Độc Lập. Đây chính là công trình kiến trúc đặc trưng và in đậm dấu ấn thời gian, lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

   Dinh Độc Lập, Dinh Thống Nhất hay còn được gọi là hội trường Thống Nhất có vị trí tọa lạc trên một mảnh đất rộng 15 ha và nằm tại trung tâm thành phố Hồ Chí Minh. Gắn với một quá trình dài trong lịch sử đấu tranh của dân tộc chính là lịch sử ra đời và phát triển của Dinh Độc Lập. Nơi đây được xây dựng bằng gỗ giữa bạt ngàn xung quanh là cây xanh vào năm 1863.

   Ngày 23 tháng 2 năm 1868 là ngày Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn được khởi công xây dựng thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863. Lúc này Dinh Độc Lập có tên mới là Dinh Norodom. Dựa vào đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo dinh mới đã được xây dựng lên. Vật liệu hầu như đều được chở từ Pháp sang.

   Đến năm 1887 nơi đây được đổi tên thành Dinh Toàn Quyền Đông Dương. Sau đấy vào tháng 3 năm 1945 nơi đây lại trở thành nơi làm việc của Phát Xít Nhật tại Việt Nam.

   Những năm kháng chiến qua đi rồi đến năm 1954 nơi đây trở thành cơ quan đầu não của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với tên gọi là Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập ngày nay đã được xếp hạng vào Di tích Quốc gia đặc biệt nhờ vào bề dày lịch sử của nó.

   Ngày nay công trình kiến trúc Dinh Độc Lập đã khác xa so với ban đầu. Được kiến trúc sư  người Việt thiết kế xây dựng trên diện tích 4.500m2 và diện tích sử dụng lên tới 20.000m2. Gồm có 3 tầng chính, 2 gác lửng, 1 sân thượng, 2 tầng hầm, tầng nền và một sân thượng để máy bay trực thăng đáp xuống.

   Trong đó có hơn 100 căn phòng được trang trí theo những phong cách khác nhau tùy vào mục đích sử dụng. Bao gồm các phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc của Tổng thống và của Phó Tổng thống, phòng khánh tiết, phòng đại yến,… và những phần trang trí bên thềm khi đi vào chánh điện.

Nhìn sơ bộ ta có thể thấy Dinh cao 26m và tọa lạc giữa khuôn viên rộng tới 12 ha với gần 2000 cây, 99 loài khác tại đây. Ngoài ra còn có 2 công viên cây xanh bên ngoài hàng rào phía trước và phía sau Dinh. Dù    mang dáng dấp của lịch sử nhưng các hệ thống phụ trợ của Dinh lại hết sức hiện đại.

   Được trang bị như điều hòa không khí, nhà kho, thông tin liên lạc, hệ thống phòng cháy. Bên dưới chính là tầng hầm còn có thể trú ẩn với sức chịu đựng lực oanh tạc, công kích của bom và pháo đáp ứng mục tiêu phòng thủ quân sự hiện đại nhất lúc bấy giờ.

   Vào thời điểm đó chi phí xây dựng lên tới 150.000 lượng vàng. Từ trên cao nhìn xuống có thể thấy rằng Dinh Độc Lập là một hệ thống tổng thể kiến trúc độc đáo và hài hòa, đẹp nhất Việt Nam.

   Nói về ý nghĩa của Dinh Độc Lập thì tổng thể của Dinh là hình chữ Cát, có nghĩa là sự tốt lành và may mắn. Trung tâm Dinh tạo thành hình chữ Khâu, nghĩa là đề cao sự giáo dục, tự do ngôn luận. Cột cờ chính giữa tạo thành chữ Trung, còn có nghĩa là trung kiên.

   Các mái hiên xung quanh tạo thành hình chữ Tam: Viết Nhân, Viết Minh, Viết Võ. Sau đấy cộng nét sổ dọc sẽ tạo thành chữ Vương. Bên trên có kỳ đài tạo thành chữ Chủ, nghĩa là chủ quyền tổ quốc.

   Mặt trước có hình chữ Hưng trong từ hưng thịnh. Với lối kiến trúc độc đáo và mang đậm đường nét Việt thuần túy, tại nơi đây mọi sự sắp đặt từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới đều tuân thủ nghiêm ngặt những triết lý của người Phương Đông và đậm chất riêng của dân tộc ta.

   Dinh Độc Lập chính là một công trình kiến trúc kết hợp hài hòa giữa hiện đại và truyền thống đến mẫu mực, là một minh chứng lịch sử lâu dài cho thế hệ sau.

   Dinh Độc Lập được coi như cội nguồn của thành phố Hồ Chí Minh với những bước thăng trầm trong lịch sử chống giặc ngoại xâm. Tại đây có rất nhiều hiện vật quí hiếm có tuổi đời lên tới cả trăm năm, chúng đã chứng kiến không biết bao nhiêu sự kiện lịch sử huy hoàng.

   Với dáng dấp của một Bảo Tàng, một chứng nhân lịch sử hết sức sống động bao gồm bộ sưu tập cây kiểng, cây xanh và không gian lý tưởng cùng tầm vóc kiến trúc đặc sắc có một không hai ở nước ta. “Đến Sài Gòn mà bỏ qua Dinh Độc Lập coi như chưa từng đến Sài Gòn” nhiều du khách trong nước và khắp thế giới tới đây khẳng định.

   Vào lúc 10 giờ 45 phút, ngày 30/4/1975 xe tăng của quân đội Nhân dân Việt Nam đã húc nghiêng cổng của Dinh Độc Lập để tiến thẳng vào trong, mở đầu cho cuộc chiến dành độc lập của dân ta.

   Chưa đầy 1 tiếng đồng hồ sau Trung úy Quân Giải phóng của ta đã hạ lá cờ ngoại lai xuống và kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên. Khoảnh khắc này đánh dấu thời điểm kết thúc 30 năm chiến tranh gian khổ, sự anh dũng hy sinh của đồng bào ta. Bởi vì thế nơi đây nghiễm nhiên trở thành điểm hội tụ của chiến thắng.

   Là tượng đài của sự tự do cho dân tộc ta. Dinh Độc Lập trở thành hội trường Thống Nhất vào tháng 11/1975 trong Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc diễn ra tại đây.

   Những năm tháng kháng chiến anh dũng của dân tộc ta đã lui về quá khứ, máu xương của đồng bào ta đã đổi lấy được tự do cũng đã mờ. Thế nhưng dấu vết lịch sử vẫn luôn còn mãi với Dinh Độc Lập. Nơi đây không chỉ đơn giản là một di tích mang tính chất lịch sử cho du khách tham quan mà còn là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam.

   Một bằng chứng sống cho sự kháng chiến trường kì và thắng lợi của người dân Việt Nam. Hãy dành một cơ hội để có thể đến đây tham quan, cảm nhận hơi thở lịch sử hùng vĩ của nhân dân ta tại Dinh Độc Lập, một biểu tượng chiến thắng của dân tộc Việt Nam.

Dinh Độc Lập

Thuyết minh về Suối Tiên

   Khu du lịch Văn hóa Suối Tiên nằm ở cửa ngõ Ðông Bắc Sài Gòn, được xây dựng cải tạo với mục đích kết hợp du lịch với giáo dục văn hoá lịch sử, nguồn cội dân tộc. Đây là một vùng đất đồi hình chữ S, rộng 200.000m2, chính giữa có dòng suối với nhiều mạch nước ngầm uốn lượn chảy xuyên qua suốt chiều dài 2.000m.

   Suối Tiên gồm 12 khu vực chính, vốn đầu tư 50 tỷ đồng. Hàng năm Suối Tiên đón gần 2 triệu lượt khách đến tham quan. Nét độc đáo của Suối Tiên là tính chất lịch sử, huyền thoại, các cụm mô hình ở đây được lấy ý tưởng từ các truyền thuyết, huyền tích của dân tộc và tư tưởng đạo học phương Ðông.

   Với mơ ước về sự thái bình, an khang thịnh vượng, những nhà thiết kế xây dựng Suối Tiên thành 4 vùng đất theo truyền thuyết về tứ linh: Long, Lân, Qui, Phụng, mỗi vùng đất ứng với 1 hành trong ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa lấy thổ làm trung tâm.

   Vẻ đẹp nên thơ kết hợp hài hòa, khéo léo giữa thiên nhiên và nhân tạo, giữa kiến trúc cổ và kiến trúc hiện đại, không khí trong lành nơi đây đã khiến cho Suối Tiên thực sự trở thành khu nghỉ ngơi, giải trí hấp dẩn của người dân thành phố cũng như của du khách từ xa đến.

   Kiểu cách kiến trúc và các thể loại vui chơi cũng được gắn lồng vào các hình ảnh lịch sử và truyền thuyết Việt Nam như tượng Lạc Long Quân, Âu Cơ, Vua Hùng, sự tích trăm trứng, Sơn Tinh Thủy Tinh, chính tầng địa ngục, công viên khủng long, tứ linh hội tụ Long-Lân-Quy-Phụng, công viên giải trí dưới nước…

   Một công trình đặc biệt khác của Suối Tiên là biển Tiên Đồng, biển nhân tạo duy nhất ở Việt Nam. Ðiểm nhấn quan trọng nhất của biển Tiên Ðồng là dãy núi cao 70 m được xây dựng hoành tráng, lộng lẫy với bức tượng khổng lồ của thần Lạc Long Quân. Ðối diện là núi Âu Cơ và các núi Ngũ Châu Hoàng nằm dọc theo mạn bắc, núi Hương Khư, Thiên Thủy, Bồng Lai trải dọc về phía nam, tiếp giáp với cung Thiên Ðình.

   Bên trong núi là những hang động nổi tiếng từ thời thượng cổ: Hương Tích (Nam Thiên đệ nhất động), Bích động (Nam Thiên đệ nhị động), các động Thủy Liêm, Hoàng Thiên, Giao Long, Tam Thanh, Huyền Khung, Kỳ Duyên… Trên đỉnh núi có những tòa lâu đài nguy nga xen lẫn với những sinh vật biển khổng lồ được chạm trổ công phu, muôn màu sắc.

   Ðứng trên đỉnh núi Lạc Long Quân, du khách không chỉ được ngắm nhìn toàn cảnh biển Tiên Ðồng và toàn bộ Suối Tiên mà còn có thể phóng tầm mắt nhìn ra tận Tây Ninh, Ðồng Nai, Vũng Tàu… Từ đỉnh, một dòng suối tinh khiết chảy qua hai triền núi tạo thành dòng thác bạc trắng xóa đổ xuống biển, chảy tràn qua các ghềnh đá phẳng.

   Không giống với các công viên nước khác, nước biển Tiên Ðồng rất tinh khiết bởi đã qua một quy trình xử lý hiện đại, khép kín gồm: hệ thống xử lý cơ học, hóa học, vật lý và sinh học. Phần kỹ thuật này do Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga cùng các chuyên gia của Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga đảm nhiệm.

   Ðến biển Tiên Ðồng, du khách không chỉ được tắm biển mà còn được tắm mưa, sương mù và cả tắm sóng…

   Hàng năm, tại Khu du lịch Suối Tiên diễn ra nhiều sự kiện văn hóa lớn, trong đó có Lễ hội trái cây Nam Bộ, thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước.

Tham khảo: Bài văn cảm nhận về một biểu tượng của Sài Gòn

Thuyết minh về Đà Lạt

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Đà Lạt

   Đà Lạt - đối với tôi đây là một thành phố rất đáng để đặt chân đến, là thành phố đáng sống và không biết từ khi nào mà tôi đã phải lòng Đà Lạt đến thế. Thành phố chìm trong sương mờ này mang những nét đẹp dịu dàng, thanh lịch mà ta khó có thể bắt gặp ở bất cứ một nơi nào khác trên mảnh đất Việt Nam. Nhắc đến Đà Lạt, dù là người mới chỉ đến lần đầu cũng có biết bao điều muốn chia sẻ, muốn bộc bạch, và đặc biệt sẽ kể về Đà Lạt bằng sự say sưa nhất.

   Từ Bắc vào Nam, dọc theo dải đất hình chữ S này có biết bao danh lam thắng cảnh, vô vàn những mảnh đất xinh đẹp được thiên nhiên ưu ái nhưng đối với tôi, Đà Lạt là một trong những nơi được sự ưu ái, thiên vị nhất của mẹ thiên nhiên. Là một thành phố nhỏ của tỉnh Lâm Đồng, một thành phố trên cao nguyên Lâm Viên của vùng Tây Nguyên Việt Nam. Vị trí của thành phố nằm trên cao nguyên nên có độ cao khoảng 1500m so với mực nước biển, với diện tích hơn 39000km2, giáp các huyện Lạc Dương, Đơn Dương, Lâm Hà, Đức Trọng. Đà Lạt nổi tiếng là thành phố của hồ và thác với khoảng 16 hồ lớn nhỏ, trong đó nổi tiếng nhất là hồ Hồ Xuân Hương nằm ở trung tâm thành phố.

   Thành phố Đà Lạt nằm ở một vị trí đặc biệt tạo nên một khí hậu đặc biệt khác hẳn với các miền xung quanh, nơi đây có khí hậu miền núi ôn hòa, mát mẻ quanh năm, được bao bọc trong những rừng thông xanh bất tận tạo nên không khí trong lành, thoáng đãng rất thích hợp cho nghỉ dưỡng, tham quan và du lịch trải nghiệm. Nhiệt độ trung bình ở đây luôn ở ngưỡng dưới 20 độ C ngay cả trong những tháng nóng nhất, ở Đà Lạt thời tiết sương mù rất phổ biến, có đến 80 - 85 ngày trong một năm có sương mù, trung bình mỗi tháng có 4 - 5 ngày xuất hiện sương mù dày, có lẽ đây chính là lý do Đà Lạt được mệnh danh là thành phố sương mờ. Đà Lạt còn nổi tiếng là thành phố hoa, bởi nơi đây thích hợp cho rất nhiều loại hoa, sự đa dạng và phong phú của các loại hoa Đà Lạt đã giúp cho thành phố này có điều kiện tổ chức các Lễ hội hoa, Festival hoa với quy mô ngày càng mở rộng, thu hút sự quan tâm của khách du lịch cả trong và ngoài nước. Không chỉ có hoa, Đà Lạt còn là xứ sở của các loại trái cây, nhiều loại quả là đặc sản của nơi đây như dâu tây, hồng, mận, đào,...

   Nhắc đến Đà Lạt mà không nhắc tới con người nơi đây thì quả là thiếu sót. Con người Đà Lạt rất thanh lịch, họ mang trong mình nhịp sống chậm rãi, an yên với bản chất rất nồng hậu, mến khách, chẳng vì thế mà ai đến với mảnh đất này cũng dùng những ngôn từ đẹp đẽ nhất để nói về Đà Lạt. Nét phóng khoáng và sự mến khách của con người nơi đây là ấn tượng đẹp cũng như là sợi dây níu kéo trong lòng người du lịch. Từ lâu, Đà Lạt đã trở thành một địa điểm du lịch nổi tiếng nằm trong top đầu những điểm du lịch của Việt Nam, mỗi năm nơi đây thu hút hàng triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng.

   Du lịch tại Đà Lạt ngày càng chuyển mình mạnh mẽ, nhiều những nhà hàng, khách sạn cao cấp mọc lên, các công trình tham quan du lịch cũng nhiều hơn, tạo nên một diện mạo mới cho Đà Lạt, một phong cách rất Châu Âu mà người ta hay gọi là "Paris thu nhỏ". Ở Đà Lạt, khó để nhớ hết những địa điểm du lịch, tuy nhiên đã đến nơi đây không thể bỏ qua những địa điểm nổi tiếng như Hồ Xuân Hương - trái tim của thành phố với quang cảnh rừng thông bao quanh, bãi cỏ, vườn hoa rất thơ mộng, trữ tình. Trường cao đẳng Sư phạm Đà Lạt được hội kiến trúc sư thế giới công nhận là một trong 1000 công trình độc đáo của thế giới trong thế kỷ 20, hay Dinh Bảo Đại - một dinh thự đẹp đẽ, trang nhã gắn liền với các tiểu cảnh tạo nên công trình đồ sộ. Thung lũng tình yêu là nơi giới trẻ không thể bỏ qua, sở hữu vẻ đẹp thơ mộng, sông nước hữu tình, ngàn hoa khoe sắc và không khí trong lành đã cuốn hút mọi du khách thả mình vào khung cảnh lãng mạn nhất. Cuối cùng là núi LangBiang - biểu tượng huyền thoại của câu chuyện tình yêu đẹp nhất xứ sở mờ sương, một ngọn núi sừng sững đầy kiêu sa nhưng gần gũi.

   Với lịch sử đã hơn một thế kỷ, Đà Lạt đã trải qua biết bao biến động thăng trầm, nhiều những cuộc kiến thiết và đổi mới nhưng vẫn giữ nguyên được nét tính cách duyên dáng, thanh lịch nguyên sơ. Có thể nói, Đà Lạt như một bông hoa đẹp giữa một rừng hoa của Việt Nam, là người đẹp mà trải qua thời gian càng đẹp hơn, càng được nhiều người mến mộ hơn.

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Thanh Hóa

Thuyết minh về bãi biển Sầm Sơn

   Bãi biển Sầm Sơn thuộc thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 16km. Bờ biển dài, bằng phẳng, phong cảnh hùng vĩ, đã được người Pháp khai thác từ năm 1906.

   Bãi biển Sầm Sơn là nơi tắm biển rất tốt mà người Pháp đã biết khai thác từ năm 1906 và Sầm Sơn nhanh chóng trở thành nơi nghỉ mát nổi tiếng của Ðông Dương. Từ những thập kỷ trước, đã có nhiều biệt thự nghỉ mát mọc lên ở đây. Vua Bảo Ðại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn cũng xây biệt thự riêng ở Sầm Sơn. Sầm Sơn có nhiều cảnh đẹp: hòn Trống Mái, đền Ðộc Cước, núi Cô Tiên.

   Biển Sầm Sơn vào mỗi thời khắc trong ngày lại có những vẻ đẹp khác nhau. Du khách tha hồ khám phá và tận hưởng những khoảnh khắc tuyệt vời ấy. Sáng sớm bình minh lên, bầu trời ửng hồng phía chân trời, từng đoàn thuyền đánh cá của ngư dân làng Núi trở về sau một đêm đánh bắt ngoài khơi xa, những nụ cười rạng rỡ, tràn đầy hạnh phúc báo hiệu một đêm ra khơi thành công. Và chợ hải sản được họp ngay bên bờ biển, với nguồn hải sản vô cùng phong phú của biển Sầm Sơn, du khách có thể chọn lựa và thưởng thức tôm, cua, ghẹ, mực, cá thu… là những đặc sản vừa được cất lên từ biển. Buổi chiều, trời mát dịu, bãi biển tập trung rất đông người xuống tắm. Những tiếng hò reo với những cơn sóng xô, những tiếng vui đùa đuổi nhau trên cát… . Khi mặt trời dần lên cao, biển Sầm Sơn lóng lánh dát vàng, từng cơn sóng vỗ bờ trắng xóa ôm lấy dải cát mịn màng ánh lên trong nắng, những cánh diều rực rỡ giữa màu xanh của bầu trời, núi non và biển cả… Du khách cũng có thể nằm phơi mình trên bãi biển, nghe những thanh âm của biển và đón những cơn gió mang theo vị mặn rất đặc trưng để tâm hồn thư thái hơn, êm dịu hơn hoặc cùng nhau xây lâu đài cát rồi lại trả nó về với biển khi những đợt sóng lên cao… Đêm Sầm Sơn, biển mờ ảo dưới ánh trăng, sao, vẫn những đợt sóng vỗ bờ nhưng dường như êm đềm hơn, vẫn là những âm thanh ấy nhưng không phải là tiếng vui đùa của du khách nhảy theo từng con sóng bạc đầu mà là những tiếng thì thầm cùng với biển và sóng…

   Đêm Sầm Sơn dường như có hai thế giới trái ngược nhau được ngăn cách bởi bức tường thiên nhiên là những rặng dừa và phi lao duyên dáng. Tạm biệt biển lấp lánh ánh trăng sao, tạm biệt bản nhạc du dương của gió, của sóng…, bước qua khỏi cái hàng rào thiên nhiên ấy, du khách sẽ thấy choáng ngợp trước đường Hồ Xuân Hương dọc theo bờ biển rực rỡ ánh đèn, cửa hàng, cửa hiệu tấp nập người qua lại. Trên vỉa hè ven biển là những sạp hàng bán đồ lưu niệm được làm từ các sản phẩm biển muôn màu sắc. Du khách đến với biển Sầm Sơn hẳn không quên mang về tặng người thân, bè bạn những món quà lưu niệm đầy ý nghĩa. Nếu không muốn bách bộ, du khách có thể đi dạo trên con đường ven biển với những chiếc xích lô xinh xắn mà chủ nhân của nó ai nấy đều giàu lòng mến khách, thân thiện và cởi mở. Họ sẵn lòng giới thiệu tới du khách về những thắng cảnh đẹp trên quê hương Sầm Sơn yêu dấu. Du khách cũng có thể thuê những chiếc xe đạp đôi để cùng bạn bè, người thân tự mình khám phá cuộc sống sôi động về đêm của thị xã biển Sầm Sơn.

   Không chỉ có biển thơ mộng cùng bãi tắm đẹp, thiên nhiên còn ban tặng cho Sầm Sơn nhiều danh lam – thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng trên núi Trường Lệ với những truyền thuyết lung linh sắc màu huyền thoại mang đậm chất nhân văn. Hòn Cổ Giải là nơi Trường Lệ tiếp xúc với biển trông như con giải khổng lồ đang vươn ra biển khơi. Đền Độc Cước (còn gọi là đền Gầm) ngự trên đỉnh hòn Cổ Giải, điểm cực bắc của dãy Trường Lệ, ngay cạnh bãi tắm Sầm Sơn. Đền mang tên Độc Cước nghĩa là một chân, gắn liền với truyền thuyết chàng khổng lồ xẻ đôi mình, một nửa ra khơi tiêu diệt thủy quái bảo vệ dân chài, còn một nửa đứng canh trên đỉnh hòn Cổ Giải. Tưởng nhớ công ơn của chàng, người dân Sầm Sơn đã lập miếu thờ chàng ngay bên tảng đá có vết lõm dấu chân khổng lồ tương truyền là bàn chân của chàng và sau này là đền Độc Cước. Trong đền có tượng thần Độc Cước bằng nửa thân người và bước chân khổng lồ trên đá của chàng trai dũng cảm đó.

   Theo sườn núi quanh co giữa những vạt thông reo là hòn Trống Mái lãng mạn tình tứ, một thắng tích độc đáo và kỳ thú. Đứng sát cạnh du khách chỉ thấy hai khối đá lớn nằm chênh vênh trên một tảng đá bằng phẳng gọi là hòn Đá Bạn. Nhưng càng lùi xa, trông chúng càng giống một đôi chim đá khổng lồ đang nằm châu mỏ vào nhau. Truyền thuyết kể rằng có đôi vợ chồng yêu nhau, chết biến thành chim vẫn quấn quýt không rời. Các tiên nữ xuống bãi Tiên tắm, cảm cái tình ấy mới biến họ thành đôi chim đá để họ vĩnh viễn bên nhau.

   Sầm Sơn với cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ quả là vùng sơn thủy hữu tình, biển cả bao la đầy chất thơ cùng những thắng tích và huyền thoại mang đậm chất nhân văn và lòng mến khách của người dân nơi đây. Biển Sầm Sơn hứa hẹn một kỳ nghỉ hè đầy hấp dẫn và lý thú.

bãi biển Sầm Sơn

Thuyết minh về cầu Hàm Rồng

   Cầu Hàm Rồng là địa danh nổi tiếng của tỉnh Thanh Hóa, nó đã đi vào những trang sử chói lọi trong những năm tháng gian khổ bảo vệ Tổ quốc.Giờ đây, khi hòa bình cầu Hàm Rồng lại trở thành một di tích lịch sử, thắng cảnh thiên nhiên đẹp và thú vị, lôi cuốn nhiều du khách trong và ngoài nước.

   Cầu Hàm Rồng là cầu đường sắt duy nhất đi qua sông Mã. Nơi đây đã từng là trọng điểm của cuộc đấu tranh đánh phá và bảo vệ giao thông trong thời kì chiến tranh chống Mỹ. Tại đây các đơn vị bảo vệ cầu đã chiến đấu hàng trăm trận, bắn rơi hơn 100 máy bay các loại, không quân Việt Nam tại đây bắn rơi 4 máy bay Mỹ. Trung đoàn pháo phòng không 228 bảo vệ cầu Hàm Rồng đã bắn rơi 90 máy bay, được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân và được mang tên Đoàn Hàm Rồng. Sở dĩ giành được những chiến thắng vang dội như thế một phần là do địa thế của cầu Hàm Rồng, tại hai đầu Bắc vào Nam của cầu có hai ngọn núi, núi Ngọc và núi Rồng đã chắn được hầu hết bom rơi xuống đây.

   Do vậy nên trong cuộc chiến tranh không quân lần thứ nhất của Mỹ chống miền Bắc Việt Nam từ năm 1964-1968 tuy bị đánh phá rất ác liệt nhưng Không quân Mỹ không thể ném bom trúng cầu. Năm 1963, cầu được các chuyên gia Trung Quốc giúp đỡ thiết kế và thi công khôi phục lại, trở thành cầu có trụ như hiện nay, với chiều rộng 17 m (gần gấp đôi cầu cũ là 9 m), được khánh thành đúng dịp sinh nhật lần thứ 74 (19/5/1964) của Hồ Chủ tịch. Cũng từ đó, cầu Hàm Rồng đã đi vào lịch sử, như một huyền thoại trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của thế kỷ XX.

   Không những thế, Hàm Rồng còn là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng, nơi đây chính là khúc ruột miền Trung nối liền hai miền Bắc Nam. Đã bao năm trôi qua, bàn tay con người đã khai phá và cải tạo nơi đây rất nhiều, những gì bàn tay con người tạo nên và vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ vốn có hòa trộn với nhau tạo nên một vẻ đẹp hết sức riêng biệt. Hùng vĩ mà lại nên thơ, mượt mà đằm thắm xen cùng vẻ hoang sơ của đất trời. Cầu Hàm Rồng bắc ngang đôi bờ sông Mã, hai bên là núi non. Truyền thuyết kể rằng, một con rồng xanh bị trúng tên độc vào mắt nằm phủ phục bên bờ sông. Từ đó tạo thành dãy núi Hàm Rồng ngày nay.

   Đền chùa cũng được xây dựng khá nhiều ở đây, làm tăng vẻ linh thiêng và thể hiện mong muốn thái bình, no ấm của nhân dân, sự cầu mong cuộc sống no ấm, mùa màng tốt tươi…Khi cây cầu được bàn tay con người xây dựng đẹp đẽ “cong như chiếc lược ngà” đã để lại những ấn tượng đẹp trong lòng người:

“Ai xui ta nhớ Hàm Rồng
Muốn trông chẳng thấy cho lòng khỏa khuây…
Sơn cầu còn đỏ chưa phai?
Non xanh còn đối, sông dài còn sâu?”

   Nơi đây quả là một danh lam non nước hữu tình, Vào những ngày đầu xuân nếu làm một chuyến du thuyền từ Hàm Rồng xuôi cửa Hới hoặc ngược ngã Ba Bông nghe giọng hò sông Mã trầm hùng, khỏe khoắn, ngắm nhìn những làng quê sầm uất ẩn hiện trong làn mưa phùn giăng mắc, gió xuân mơn man càng thêm mến yêu, tự hào về quê hương, đất nước. Những quả đồi, núi ở đất Hàm Rồng được phủ kín những rừng thông, bạch đàn, keo… Ru tâm hồn ta êm mát, nhẹ nhàng hơn, những rừng cây xanh mướt trải dài như lá phổi xanh giúp thanh lọc không khí khói bụi phần nào trong lành hơn. Việc sửa sang lại nơi đây khiến thu hút nhiều khách tham quan và du khách hơn, về với non nước Hàm Rồng thơ mộng để được đắm mình trong những huyền thoại, truyền thuyết về vùng đất, con người có truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm; được ôn lại những kỳ tích hào hùng của thời chống Pháp và chống Mỹ; được chứng kiến sự hồi sinh diệu kỳ trong gần 30 năm đổi mới, càng thêm mến yêu, tự hào về quê hương xứ sở.


   Hàm Rồng cũng như Ngã ba Đồng Lộc, là một địa điểm ghi dấu nhiều chiến tích oai hùng, cùng với vẻ đẹp thiên nhiên ở đây sẽ khiến nơi này mãi là niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam, tiêu biểu cho nền văn hóa dân tộc, và truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước ngoan cường.

thành Nhà Hồ

Thuyết minh về thành Nhà Hồ

   Thành Nhà Hồ thuộc địa phận của tỉnh Thanh Hóa ngày nay từng là kinh đô của nước Việt Nam từ năm 1398 đến 1407. Đây là một trong những thành lũy bằng đá hiếm hoi còn sót lại tại Đông Nam Á.

   Thành Nhà Hồ đã được UNESCO công nhậnlà Di sản văn hóa thế giới vì những giá trị văn hóa, lịch sử cùng kỹ thuật xây dựng độc đáo của công trình này mang lại.

   Thành Nhà Hồ do Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397, dưới thời vua Trần Thuận Tông. Trong lịch sử, thành còn được biết đến với các tên gọi khác là thành An Tôn , Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai. Thành được xây dưới sự chỉ đạo của Hồ Quý Ly lúc ông đương nhậm chức tể tướng dưới thời nhà Trần.

   Sau khi thành xây xong, Hồ Quý Ly buộc vua Trần Thuận Tông dời đô từ Thăng Long (nay là Hà Nội) về Thanh Hóa. Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi vua thay cho nhà Trần, Thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô, và Hồ Quý Ly lấy quốc hiệu là Đại Ngu , tức niềm hạnh phúc, an vui. Tuy vậy triều đại này chỉ kéo dài vỏn vẹn 7 năm, là triều đại ngắn nhất trong lịch sử Việt Nam .

   Thành Nhà Hồ đáp ứng đầy đủ hai tiêu chí về văn hóa mà UNESCO đưa ra để xếp hạng Di sản cho công trình. Tiêu chí thứ hai “Thể hiện các giá trị nhân văn quan trọng và sự ảnh hưởng của chúng qua một thời kỳ lịch sử quốc gia hay trong một khu vực của thế giới, những đóng góp này có tính phát triển trong kiến trúc, công nghệ, nghệ thuật điêu khắc, và cách quy hoạch thành phố”.

   Tiêu chí thứ tư “Trở thành ví dụ nổi bật về một loại hình công trình, một quần thể kiến trúc, kỹ thuật hoặc cảnh quan minh họa được giá trị của một (hoặc nhiều) giai đoạn trong lịch sử nhân loại”.

   Công trình này được đánh giá cao về mặt kỹ thuật xây dựng các khối đá được cho là có một không hai ở Việt Nam nói riêng và toàn khu vực Đông Á, Đông Nam Á nói chúng vào khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV. Các nhà nghiên cứu đánh giá, kiến trúc Thành Nhà Hồ được xây rất khoa học, với các phiến đá lớn được đục đẽo một cách vuông vức, xếp đan xen với nhau theo hình múi bưởi để tránh các rung chấn lớn như động đất.

   Đặc biệt là giữa các phiến đá này không hề có bất kỳ chất kết dính nào nhưng tòa thành vẫn đứng vững hơn 600 năm, vượt qua nhiều tác động của địa chấn và bom đạn tàn phá. Ngoài ra khối công trình đồ sộ, vững chắc này chỉ được xây dựng vẻn vẹn trong vòng 3 tháng đầu năm 1397.

   Theo các tài liệu để lại cùng công việc khảo cổ, nghiên cứu hiện trạng thì quần thể di sản Thành Nhà Hồ bao gồm Thành nội, Hào thành, La thành và Đàn tế Nam Giao nằm phía ngoài thành. Trong đó, Hoàng thành là công trình đồ sộ nhất đồng thời nguyên vẹn nhất còn lại cho đến nay.

   Toàn bộ mặt ngoài tường thành là sự kết hợp của bốn cổng chính làm từ những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, chồng khít lên nhau. Những khối đá lớn này có phiến dài tới hơn 6 mét, nặng khoảng 20 tấn. Lý giải về cách vận chuyển các khối đá khổng lồ này, các nhà khảo cổ cho rằng người ta đã dùng các hòn bi đá để lăn chuyển chúng.

   Những khối đá lớn này có phiến dài tới hơn 6 mét, nặng khoảng 20 tấn khít với nhau mà không hề có bất kỳ chất kết dính nào
Trước kia, bên trong thành còn có nhiều công trình nguy nga như Điện Hoàng Nguyên, Cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, Tây Thái Miếu, Đông Thái Miếu,… không thua gì kinh thành Thăng Long . Tuy nhiên, qua khoảng thời gian dài hơn 6 thế kỷ với nhiều sự tác động chủ quan và khách quan đã khiến cho hầu hết các công trình kiến trúc này bị phá hủy hoàn toàn.

   Một trong những bí ẩn lớn liên quan đến công trình là sự mất tích của đầu rồng trên cặp rồng được chạm khắc tỉ mỉ bên trong hoàng thành. Đôi tượng rồng đá này được các nhà sử học đánh giá thuộc loại tượng rồng lớn và đẹp nhất còn sót lại ở Việt Nam. Chúng có hình dạng thân thon nhỏ dần về phía đuôi, uốn bảy khúc, phủ kín vảy. Đôi rồng này còn mang giá trị nghệ thuật chạm khắc đặc thù của thời Trần lúc hưng thịnh.

   Có khá nhiều giả thiết về việc lý giải tại sao đầu rồng lại bị biến mất nhưng giả thiết sau khi xâm lược nước ta, quân Minh cho chặt đầu rồng mang về báo công được nhiều người chấp nhận.

   Thành Nhà Hồ là di tích lịch sử quan trọng có giá trị cao về mặt văn hóa, kiến trúc thời xưa. Đến với di tích này du khách có cơ hội chiêm ngưỡng sự độc đáo của công trình xưa cũ và tìm hiểu về kỹ thuật công phu này. Đây là điểm đến ngày càng thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến. 

   Trên đây là hướng dẫn cách làm kèm dàn ý chi tiết thuyết minh về danh lam thắng cảnh lớp 8 mà các em cần tham khảo để có cho mình một bài văn hay. Ngoài ra, các em có thể tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu 8 khác được cập nhật thường xuyên tại doctailieu.com. Chúc các em luôn học tốt và đạt kết quả cao nhé!

Huyền Chu (Tổng hợp)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

X