Suy nghĩ của em về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

Tham khảo văn mẫu trình bày suy nghĩ của em về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương kèm dàn ý chi tiết dành cho các em học sinh lớp 9

Tham khảo tài liệu hướng dẫn làm bài nêu suy nghĩ của em về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương do Đoc tài liệu sưu tầm và biên soạn để tìm hiểu về tác phẩm một cách đầy đủ và sâu sắc nhất.

****

Phân tích đề bài nêu suy nghĩ của em về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

- Yêu cầu đề bài: nêu suy nghĩ của bản thân về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

- Phương pháp làm bài: phân tích, cảm nhận

Lập dàn ý suy nghĩ của em về bài thơ Viếng lăng Bác

1. Mở bài

- Giới thiệu nhà thơ Viễn Phương và bài thơ Viếng lăng Bác.

+ Viễn Phương là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. Thơ ông thường dung dị, giàu tình cảm, chan chứa tình yêu quê hương đất nước. Phong cách đó thể hiện rất rõ qua các tập thơ: “Mắt sáng học trò”, “Nhớ lời di chúc”, “Như mấy mùa xuân”…

+ Bài thơ “Viếng lăng Bác” trích trong tập “Như mấy mùa xuân” là một tác phẩm đặc sắc cả về nội dung và nghệ thuật.

- Nhận xét khái quát về bài thơ: Cảm xúc của tác giả trong bài thơ là cảm xúc chung của toàn dân ta đối với Bác Hồ kính yêu.

2. Thân bài

* Lòng kính yêu chân thành từ người con miền Nam ra thăm lăng Bác

- Nỗi xúc động thiêng liêng của nhà thơ khi đến trước lăng Bác:

+ Nhà thơ xưng "con": như lời nói thường thể hiện tình cảm của người con lâu ngày về thăm cha.

+ Nhà thơ sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng”:

“Viếng”: là đến chia buồn với thân nhân người chết.

+ “Thăm”: là gặp gỡ, trò chuyện với người đang sống.

-> Cách nói giảm, nói tránh -> giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát -> khẳng định Bác vẫn còn mãi trong trái tim nhân dân miền Nam, trong lòng dân tộc. 

+ Cảm xúc thành kính, thiêng liêng: hàng tre trong sương (vừa là sương sớm, vừa là khói nhang), hàng tre (hình ảnh thân thương của làng quê, của cả dân tộc).

+Thành kính dâng Bác lòng kiên trung, bất khuất: hàng tre xanh xanh Việt Nam, bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

- Tự hào tôn kính và biết ơn sâu lắng:

+ Nhớ ơn Người soi đường cách mạng: ngày nay (muôn đời nhớ ơn), mặt trời trong lăng rất đỏ (lý tưởng cách mạng, ánh sáng soi đường đem lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no của nhân dân ta.),…

+ Ca ngợi sự vĩ đại, bất tử của Bác vừa thể hiện sự tôn kính, ngưỡng mộ và lòng biết ơn vô hạn đối với Người. Dù Bác đã đi xa nhưng Bác luôn sống trong lòng của nhân dân Việt Nam muôn thế hệ: nằm trong giấc ngủ bình yên; vầng trăng dịu hiền (vầng trăng bầu bạn, vầng trăng tâm hồn Bác dịu hiền).

* Niềm tiếc thương vô hạn

- Nỗi nhớ Bác ngàn thu:

+ Thương nhớ vô hạn suốt chiều dài thời gian (ngày ngày), vô tận suốt chiều dài không gian (dòng người đi trong thương nhớ), còn không gian quanh lăng tràn ngập nỗi nhớ không nguôi về Bác - vị cha già vĩ đại của dân tộc.

+Lý trí (vẫn biết) vẫn hiểu rằng Bác sống mãi như trời xanh (trời xanh là mãi mãi), nhưng tình cảm không thể không đau đớn (nghe nhói trong tim: từ nhói diễn tả cảm giác cái đau đến đột ngột, chói gắt, đến nhanh nhưng không dễ tan đi được).

- Lưu luyến không rời:

+ Đang đứng trong lăng Người mà nhà thơ đã nghĩ đến giây phút chia xa, cảm xúc thương nhớ trào dâng với vô vàn lưu luyến: thương trào nước mắt.

+ Ước nguyện của tác giả: điệp ngữ “muốn làm” (nguyện ước rất thiết tha), chim hót, hoa tỏa hương (quấn quýt), cây tre trung hiếu chốn này (thủy chung với Bác, với lý tưởng của Bác) => là tình cảm, khát vọng trào dâng mãnh liệt để bày tỏ lòng kính yêu và lòng biết ơn vô hạn đối với Bác.

* Đặc sắc nghệ thuật: 

- Thể thơ tám chữ có nhịp điệu, từ ngữ gần gũi, quen thuộc.

- Hình ảnh thơ sáng tạo, vừa cụ thể, xác thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng.

- Giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lắng vừa xót xa, tha thiết lại chan chứa niềm tin và lòng tự hào, thể hiện đúng những tâm trạng bộn bề của bao người khi vào lăng viếng Bác.

3. Kết bài

- Nhiều hình ảnh ẩn dụ thiêng liêng, cao cả; giọng điệu chậm rãi, trang nghiêm mà tha thiết.

- Diễn tả một cách xúc động tình cảm kính yêu, nhớ thương và biết ơn sâu sắc của nhân dân miền Nam nói riêng, cả dân tộc Việt Nam nói chung đối với Bác Hồ.

- Là bài ca sâu lắng, giàu sức truyền cảm và quen thuộc với mỗi người Việt Nam.

Xem thêm tài liệu dàn ý phân tích bài thơ Viếng lăng Bác để suy luận rõ nét hơn lòng thành kính và niềm xúc động của nhà thơ đối với Người khi vào lăng viếng Bác.

Văn mẫu tham khảo nêu suy nghĩ của em về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

Bài văn mẫu 1:

Trong những bài thơ viết về Bác sau ngày Bác đi xa, “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương có lẽ là một bài thơ đặc sắc nhất. Bài thơ diễn tả niềm kính yêu, sự xót xa và lòng biết ơn vô hạn của nhà thơ đối với vị lãnh tụ của dân tộc bằng cảm xúc chân thành, thiết tha, sâu lắng.

Từ mảnh đất miền Nam mấy chục năm trời chiến đấu gian khổ, tác giả làm cuộc hành hương về đất Bắc. Lòng bồi hồi xúc động, anh tìm đến Ba Đình :

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác.

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

Đoạn thơ mở đầu là tình cảm thành kính nhưng vẫn gợi một không khí ấm áp gần gũi không chỉ ở cách xưng hô “con” mà còn ở cách dùng từ “thăm” thay vì từ “viếng” nhằm mang ý nghĩa giảm nhẹ, tác giả chỉ là một người con về thăm cha, thăm nơi Bác nghỉ.Nỗi đau như cố giấu mà giọng thơ vẫn chan chứa ngậm ngùi. Hình ảnh đầu tiên gây ấn tượng đậm nét với tác giả là hình ảnh hàng tre trong sương sớm, trải dài, bát ngát một màu xanh, khiến cho lăng Bác trang nghiêm bỗng trở nên thân thuộc, gần gũi như xóm làng Việt Nam.Hình ảnh hàng tre “đứng thẳng hàng” trong “bão táp mưa sa” đã trở thành biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường, không bao giờ chịu khuất phục của nhân dân Việt Nam.Hình ảnh đó như khúc dạo đầu mở ra một loạt những suy tưởng mênh mông, sâu lắng:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

“Mặt trời trong lăng” là một ẩn dụ chỉ Bác Hồ, mặt trời thiên nhiên đem lại ánh sáng và sự sống. Còn mặt trời Bác cũng là ánh sáng soi đường đem lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no. Mặt trời Bác tỏa sáng, ấm áp, sóng đôi và trường tồn cùng mặt trời thiên nhiên là một sáng tạo riêng của tác giả. Cách nói vừa ca ngợi sự vĩ đại, bất tử của Bác vừa thể hiện sự tôn kính, ngưỡng mộ và lòng biết ơn vô hạn đối với Bác …Tất cả tình cảm đó dệt thành ý thơ tuyệt đẹp:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.

Điệp ngữ “ngày ngày" và hình ảnh “dòng người đi trong thương nhớ" vừa gợi ấn tượng về cõi trường sinh vĩnh viễn vừa gợi tấm lòng nhân dân không nguôi nhớ Bác.Tình cảm đó kết thành tràng hoa đẹp dâng lên 79 mùa xuân của Bác kính yêu. Nhịp thơ chậm rãi, dàn trải, cấu trúc câu và từ ngữ được lặp lại gợi liên tưởng đến những bước đi chầm chậm của dòng người vào lăng viếng Bác trong không khí thiêng liêng, thành kính và niềm cảm xúc thiết tha..

Đứng trước di hài Bác, bao tình cảm ấp ủ bấy lâu bỗng trào dâng thổn thức :

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim.

“Trời xanh”, “vầng trăng” là những hình ảnh kỳ vĩ của thiên nhiên gợi suy ngẫm về cái cao cả, vĩ đại, bất diệt, trường tồn.Bác vẫn còn mãi với non sông, người đã hóa thân vào thiên nhiên, đất nước.Sự nghiệp của người là bất tử. Dù tin như vậy nhưng trái tim vẫn nhói đau khi nghĩ rằng Bác không còn nữa. Nỗi đau được biểu hiện cụ thể, trực tiếp “mà sao nghe nhói ở trong tim!" .Đó là nỗi đau, là niềm thương vô hạn của đứa con về muộn bên di hài người cha yêu kính.

Cuộc gặp gỡ nào rồi cũng đến lúc phải chia tay. Lòng nhớ thương, đau xót kìm nén đến giờ vỡ oà thành nước mắt :

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Ước nguyện được hoá thân thành con chim, đoá hoa, cây tre để canh giữ, điểm tô cho nơi vị lãnh tụ kính yêu yên nghỉ.Hình ảnh cây tre lặp lại cuối bài tạo ấn tượng đậm nét thể hiện lòng kính yêu và lòng biết ơn vô hạn đối với Bác. Điệp ngữ “muốn làm”, cấu trúc câu được lặp lại tạo thành nốt nhạc dồn dập, tha thiết diễn tả tình cảm, khát vọng trào dâng mãnh liệt.Bài thơ tưởng khép lại trong sự xa cách về không gian nhưng lại tạo được sự gần gũi trong tình cảm, ý chí. Như vậy bước chân ra đi nhưng tấm lòng của người con miền Nam thì ở lại. Tiếng lòng đó, ước nguyện đó không chỉ là của riêng tác giả mà đã trở thành tiếng lòng chung của nhiều người.

“Viếng lăng Bác” là bài thơ giàu chất suy tưởng, chất trữ tình đằm thắm với cách sử dụng nhiều luyến láy ngôn ngữ, phong phú âm điệu khiến bài thơ mau chóng được đông đảo bạn đọc tiếp nhận. Chính vì vậy nó đã sớm được phổ nhạc và trở thành một bài ca sâu lắng, giàu sức truyền cảm và quen thuộc với mỗi người Việt Nam.

Tham khảo tài liệuCảm nhận bài thơ Viếng lăng Bác 

Bài văn mẫu 2:

Với lòng kính yêu vô vàn đối với vị Cha già kính yêu của dân tộc và cảm xúc mãnh liệt khi trực tiếp được đến thăm lăng Bác Viễn Phương-một trong những nhà thơ xuất hiện sớm nhất của lực lượng văn nghệ miền Nam đã sáng tác bài thơ “Viếng lăng Bác". Bài thơ được sáng tác năm 1976 thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ cũng như của mọi người đối với Bác khi được vào thăm lăng.

Suốt bài thơ là những cảm xúc bồi hồi,dâng trào niềm mến yêu,thành kính với  Bác. Cảm xúc ấy được thể hiện ngay khi tác giả chưa được vào lăng. Nhà thơ không đến viếng lăng Bác mà ra thăm Bác. Bởi vì tưởng như Bác đang nhìn thấy mọi người ở xa, nhà thơ đã tự đặt tay lên ngực và cung kính tự giới thiệu:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

"Lời xưng hô"con”sao mà gần gũi mà thân thương đến thế. Bác Hồ của chúng ta có trăm nghìn người con nhưng người con này thì đặc biệt hơn là từ"miền Nam ra thăm", từ chiến trường miền nam vừa mới được hoà bình một năm ra đây để thăm cha. cảm giác gần gũi ấy còn được gợi lên qua một hình ảnh không thể quen thuộc hơn được nữa "hàng tre bát ngát”mọc bên lăng.Theo Thép Mới trong bài "Tre”thì “Tre giữ làng,giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” còn hình ảnh của Viễn Phương lại đứng “thẳng hàng”dù cho “bão táp mưa sa”cũng luôn xanh tươi để bảo vệ lăng Bác.

Tre luôn tượng trưng cho con người và dân tộc Việt Nam với những phẩm chất cao quý. Nhà thơ không chỉ ấn tượng với màu xanh bất tận, mạnh mẽ của tre mà còn ấn tượng với sự kiên cường, bất khuất của những con người Việt Nam luôn luôn biết vượt qua gian lao, thử thách để giành lại độc lập cho đất nước.

Những câu thơ ở khổ thơ đầu vừa mang sắc thái trang nghiêm, thành kính lại vừa gợi cảm giác gần gũi. Từ những cảm xúc ban đầu, tâm trạng xúc động, thành kính của nhà thơ đã tiến thêm cùng với những bước chân đang tiến về gần lăng Bác:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân"

Hình ảnh thực kết hợp với hình ảnh ẩn dụ làm cho ta thấy Bác thật vĩ đại, lớn lao. “Mặt trời”của thiên nhiên mang đến ánh sáng cho muôn loài, mang đền sức sống cho vạn vật. “Mặt trời”của chúng ta là Bác, Bác đã mang lại độc lập,tự do dân tộc,giúp chúng ta thoát khỏi những vòng xiềng xích, nô lệ của bọn đế quốc và bọn thực dân. Tác giả đã thể hiện rõ sự tôn vinh, ngưỡng mộ của mình đối với Bác Hồ kính yêu. Đồng thời cũng thể hiện lòng thành kính, biết ơn của nhân dân ta đối với Bác “dòng người đi trong thương nhớ”, “kết tràng hoa dâng". Những con người đến đây thăm Bác như là những bó hoa tươi đẹp nhất dâng lên Người. Cảm xúc nối tiếp cảm xúc, Viễn Phương đã thực sự xúc động khi bước chân vào trong lăng. Không gian và cảnh vật trong lăng thật trang nghiêm và yên lặng bởi vì Bác đang ngủ, một giấc ngủ thanh thản, giấc ngủ ngàn thu để Bác nghỉ ngơi, thư giãn sau một chặng đường gian khó, nhiều chông gai:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên"

Trong suốt cuộc hành trình của mình Người đã phải trải qua nhiều gian khổ, đi vào nhiều nhà ngục và những khi ấy vầng trăng lại là người bạn tri kỷ nhất của Người. Ánh theo Bác vào rừng, soi sáng những đêm tối qua song sắt, trăng đã trở thành hình ảnh rất đỗi quen thuộc trong thơ của Bác như bài “Cảnh khuya”, bài “Rằm tháng giêng” và bây giờ trăng lại tỏa sáng, thứ ánh sáng dịu hiền quanh chỗ Bác nằm. Sự hiện diện của vầng trăng không chỉ để gợi nhắc về sự gắn bó giữa trăng và Bác mà còn nói lên tâm hồn thanh cao, giản dị của Người giống như “vầng trăng sáng dịu hiền” vậy. Đứng trước thi thể của Người nhà thơ đã gần như chết lặng đi:

“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim"

Bác luôn được ví như “mặt trời", “trời xanh”những thứ vĩnh hằng của thiên nhiên sẽ không bao giờ mất đi. Cũng như Bác nằm trong tâm trí của chúng ta, tấm gương của Bác sẽ vẫn là tấm gương vĩ đại nhất cho chúng ta noi theo. Đã biết vậy, nhưng nhà thơ không thể không phủ nhận sự thật là Bác đã đi rồi. Niềm đau đớn vô hạn của tác giả như là một cái gì đó đâm vào tim”nghe nhói". Nhưng dù sao Bác đã hóa thân vào với trời xanh, đất nước non sông, Bác vẫn còn sống mãi với sự nghiệp của chúng ta. Nỗi đau của nhà thơ cũng như nỗi đau chung của toàn dân tộc. Có một nhà văn có nói: “Không có một niềm vui nào bằng niềm vui đoàn tụ, không có nỗi đau nào bằng nỗi đau chia ly". Thật là đúng, nhà thơ đã mừng khôn xiết khi được gặp Bác nhưng giờ đây lại phải đối diện với nỗi đau phải rời xa Bác:

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt"

Ai mà chẳng phải tiếc nuối khi phải rời xa người mình yêu quý. Tác giả đã có một nguyện vọng thiết tha:

“Muốn làm con chim ca hót quanh lăng

Muốn làm bông hoa hương tỏa đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này"

Nguyện ước của Viễn Phương muốn hoá thân vào thiên nhiên để làm đẹp bên lăng Bác. Cũng giống như nhà thơ Thanh Hải từng muốn làm con chim, làm một cành hoa để góp phần làm đẹp cho mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước. Nhưng nhà thơ có được điều đặc biệt hơn là ông muốn làm”cây tre trung hiếu” để canh giữ bên lăng. Tre được coi là biểu tượng của sự trung thành, vì thế nguyện ước của nhà thơ là muốn làm một người trung với nước, hiếu với dân đúng như lời Bác dặn với những người lính.

Viếng lăng Bác là bài thơ có thật nhiều hình ảnh ẩn dụ để thông qua đó nói lên những cảm xúc và suy nghĩ của tác giả. Cả bài thơ là một giọng điệu thiết tha, trầm lắng nhưng cũng không kém phần trang nghiêm. Ngôn ngữ trong bài tuy bình dị, mộc mạc nhưng lại có sức biểu cảm cao. Chính vì thế mà bài thơ đã được phổ thành nhạc thành công và trở thành tiếng lòng của con dân Việt Nam muốn nói với Bác còn vang mãi đến đời sau.

Bài văn mẫu 3:

Trong số những bài thơ viết về Hồ Chí Minh - nhà lãnh tụ vĩ đại, niềm tự hào của dân tộc, ta không thể không kể đến tác phẩm Viếng Lăng Bác được in trong tập thơ “Như mây mùa xuân” của Viễn Phương, đó là một bài thơ vô cùng xúc động, một bài thơ ngắn gọn nhưng lại là cả tấm lòng thành kính xót thương vô hạn của nhà thơ nói riêng và cũng chính là của đồng bào miền Nam đối với vị cha già kính yêu của dân tộc.

Thật vậy, Viễn Phương là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. Thơ ông thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm, giàu chất mộng mơ ngay cả trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến trường. Bài thơ được viết vào tháng 4 năm 1976 khi đất nước đã thống nhất, bài thơ chính là tình cảm, niềm mong mỏi là ước nguyện của nhà thơ cũng như các chiến sĩ và đồng bào miền Nam khi ra thăm lăng viếng Bác.

Mở đầu bài thơ chính là cảm xúc của bài thơ khi đến thăm lăng Bác, đó là tình cảm của một người con đã đi từ một nơi rất xa cả về không gian và thời gian, giờ đây giờ phút được trở về bên Bác đã được diễn tả sâu sắc trong qua khổ thơ

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.

Câu thơ mở đầu như một lời tự sự, một lời thông báo giản dị nhưng chứa đựng biết bao điều. Miền Nam nơi đầu tuyến của tổ quốc nơi đã có không biết bao vị anh hùng đã ngã xuống, vì thế đây không đơn thuần là đi chiêm ngưỡng di hài của một vĩ nhân mà chuyến đi này còn chính là tìm về cội nguồn, về để báo công với Bác, về để được Bác ôm vào lòng.Ở đây nhà thơ xưng bằng tiếng con, cách xưng hô thật gần gũi thân thiết nhưng vẫn hết mực thành kính, thiêng liêng. Lời thơ còn ẩn chứa nỗi niềm ra thăm Bác, nhà thơ không nói viếng mà là thăm bởi lẽ đây chính là cách nói giảm nói tránh để giảm nhẹ nỗi đau thương rằng Bác vẫn còn sống mãi trong lòng nhân dân miền Nam, trong lòng mỗi người con Việt, đó cũng chính là niềm xúc động sau bao năm xa cách của tấm lòng người con về thăm cha, về thăm nơi Bác nằm để thỏa lòng khao khát mong nhớ bấy lâu. Ấn tượng đầu tiên mà tác giả quan sát được, cảm nhận được chính là hình ảnh hàng tre trong sương biết bao sức sống “Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát.

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.”

Sự xuất hiện của hàng tre trước không chỉ là hình ảnh hết sức thân thuộc và gần gũi của làng quê, đất nước Việt Nam mà đó còn là hình kiên cường bất khuất của nhân dân Việt Nam dù có khó khăn, gian khổ nhưng nhân dân ta vẫn trường kỳ chiến đấu anh dũng, không bao giờ chịu khuất phục vẫn luôn “đứng thẳng hàng”, vẫn luôn đoàn kết đấu tranh tới cùng vì sự nghiệp vĩ đại của tổ quốc. Chỉ một khổ thơ ngắn thôi nhưng đã nói nên được biết bao những cảm xúc chân thành thiêng liêng của nhà thơ cũng như của nhân dân đối với Bác.

Sang đến khổ hai chính là những cảm xúc trân thành của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…

Nhà thơ đã sử dụng thành công biện pháp nghệ thuật so sánh khi khi so sánh Bác với mặt trời. Hình ảnh mặt trời đi qua trên lăng đó là mặt trời của thiên nhiên, là cội nguồn của sự sống là sự bất tử vĩnh hằng. Còn hình ảnh mặt trời trong lăng chính là hình ảnh của Bác, nếu như không có mặt trời thì cũng đồng nghĩa với việc sẽ không tồn tại sự sống, dân tộc Việt Nam cũng như vậy nếu như vậy, Bác chính là mặt trời tỏa sáng soi sáng sưởi ấm cho nhân dân, dẫn lối cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc giành tự do, đó cũng chính là niềm tự hào của dân tộc ta khi có Bác.

Cũng như vậy nhà thơ lấy hình ảnh đoàn người ngày ngày vào lăng viếng Bác đó là hình ảnh đều đặn của con người Việt Nam, những dòng người lặng trĩu từ khắp mọi miền tổ quốc đã về đây lặng lẽ theo nhau vào lăng viếng Bác “Dòng người đi trong thương nhớ”. Đoàn người kết thành tràng hoa bất tận dâng người 79 mùa xuân, “tràng hoa” ở đây theo nghĩa thực là những bông hoa tươi thắm kết thành vòng hoa được những người con khắp nơi trên đất nước và thế giới về thăm dâng lên Bác để bày tỏ tình cảm, tấm lòng nhớ thương, yêu quý, tự hào của mình hay tràng hoa ấy còn mang nghĩa ẩn dụ chỉ từng người đang xếp hàng mỗi ngày viếng lăng Bác nối đuôi nhau kết thành tràng hoa bất tận để dâng lên người 79 mùa xuân, 79 năm cuộc đời. Hình ảnh chính là lòng biết ơn sâu sắc, thành kính của nhân dân đối với vị cha già kính yêu.

Ngoài lăng là vậy khi vào trong lăng, không khí thật trang nghiêm như ngưng đọng cả không gian lẫn thời gian, sự yên tĩnh trang nghiêm cùng ánh sáng dịu nhẹ trong trẻo của không gian trong lăng đã được miêu tả qua khổ thơ:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim.

Đứng trước Bác, nhà thơ cảm nhận Người đang ngủ giấc ngủ bình yên, thanh thản giữa vầng trăng sáng dịu hiền.Hình ảnh Bác giấc ngủ bình yên, giữa một vầng trăng sáng dịu hiền câu thơ thực và mộng gợi nhiều liên tưởng. Vầng trăng ấy gợi cho chúng ta nghĩ đến tâm hồn, cách sống cao đẹp, thanh cao, sáng trong của Bác và những vần thơ tràn ngập ánh trăng của Người. Đúng là Chỉ có thể bằng trí tưởng tượng, sự thấu hiểu và yêu quý những vẻ đẹp trong nhân cách của Hồ Chí Minh thì nhà thơ mới sáng tạo nên được những ảnh thơ đẹp như vậy! Tâm trạng xúc động của nhà thơ được biểu hiện bằng một hình ảnh ẩn dụ “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi”. Trời xanh chính hình ảnh thiên nhiên tồn tại vĩnh hằng và mãi mãi cũng giống như Bác vẫn còn mãi với non sông đất nước nhưng sao vẫn còn nghe nhói ở trong tim. Đó chính là nỗi đau quặn thắt, nỗi đau mất mát tột cùng trong tim, nỗi đau không thể diễn tả thành lời, nỗi đau ấy không chỉ của riêng tác giả mà còn là nỗi đau của triệu đồng bào triệu trái tim Việt Nam.

Cuối cùng cảm xúc dâng trào sau giây phút ngắn ngủi bên người, để mai trở về miền Nam, những ước nguyện muốn hóa thân, hòa nhập vào những cảnh vật nơi đây để mãi được ở bên Người

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…

Điệp ngữ “muốn làm” cùng các hình ảnh đẹp của thiên nhiên“con chim”,”đóa hoa”,”cây tre” đã thể hiện ước muốn tha thiết, mãnh liệt của tác giả. Thương trào nước mắt đó là một tình cảm rất thực không chỉ ở nhà thơ mà bất cứ ai đến viếng Bác. Nhà thơ ao ước được hóa thân thành con chim nhỏ cất tiếng hót làm vui lăng Bác, thành đóa hoa đem sắc hương, điểm tô cho vườn hoa quanh lăng. Đặc biệt là ước nguyện “Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này” để có thể canh giữ giấc ngủ cho người. Hình ảnh hàng tre quanh lăng Bác được lặp ở câu thơ cuối như mang thêm nghĩa mới, tạo ấn tượng sâu sắc, làm dòng cảm xúc được trọn vẹn. “Cây tre trung hiếu” là hình ảnh ẩn dụ thể hiện lòng kính yêu, sự trung thành vô hạn với Bác. Bài thơ Viếng lăng Bác khép lại mà lòng biết bao lưu luyến nhớ thương, không muốn rời xa.

Tóm lại, nhà thơ Viễn Phương thật tài tình khi sử dụng thành công các biện pháp tu từ để thể hiện rõ nét sự trân thành từ đáy lòng mình cùng với niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, niềm tự hào đau xót của nhà thơ nói riêng và của toàn dân tộc Việt Nam nói chung đối với vị cha già đáng kính của dân tộc.

Nguồn văn mẫu: Sưu tầm và tổng hợp

Xem thêm:

****

Trên đây là một số bài văn mẫu tham khảo về đề tài suy nghĩ của em về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương dành cho các em học sinh lớp 9. Ngoài ra, các em có thể tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu lớp 9 khác được cập nhật thường xuyên tại doctailieu.com. Chúc các em luôn học tốt và đạt kết quả cao!

Bạn còn vấn đề gì băn khoăn?
Vui lòng cung cấp thêm thông tin để chúng tôi giúp bạn
Hủy

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM