Soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo)

Hướng dẫn soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo), gợi ý trả lời câu hỏi trang 35 sách giáo khoa Ngữ Văn 11 tập 1.

Trong bài soạn Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo), chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu về quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân, cùng giải một số câu hỏi bài tập phần Luyện tập trang 35, 36 SGK. Mục tiêu chính của bài soạn là nhằm giúp các em nắm được các khái niệm về ngôn ngữ chung, lời nói cá nhân, mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân.

A - Hướng dẫn soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo)

Có nhiều cách để trình bày câu trả lời của một câu hỏi, vì vậy mà Đọc tài liệu đã tổng hợp đầy đủ nhiều cách soạn bài khác nhau từ ngắn gọn nhất tới chi tiết, đầy đủ nhất phù hợp với nhu cầu tìm hiểu của các bạn học sinh. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

Soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo) Ngắn nhất

Câu 1 trang 35 SGK Ngữ văn 11 tập 1. Từ nách là một từ phổ biến, quen thuộc với mọi người nói tiếng Việt với nghĩa "mặt dưới chỗ cánh tay nối với ngực" (Từ điển tiếng Việt - Hoàng Phê chủ biên). Nhưng trong câu thơ dưới đây, Nguyễn Du đã có sự sáng tạo riêng khi dùng từ nách như thế nào?

"Nách tường bông liễu bay sang láng giềng"

Trả lời:

– Từ nách được Nguyễn Du sử dụng để chỉ chỗ tiếp giáp giữa hai bức tường xây chắn chung quanh nhà (góc tường).

– Tác giả đã chuyển nghĩa từ nách từ việc chỉ một bộ phận trên cơ thể con người sang chỉ một góc tường, đó là hình ảnh ẩn dụ. Nếu thay từ nách tường bằng góc tường thì giá trị của câu thơ sẽ giảm đi rất nhiều.

Câu 2 trang 36 SGK Ngữ văn 11 tập 1. Trong mỗi câu thơ sau, từ xuân được dùng theo sự sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ như thế nào? Hãy phân tích nghĩa của từ xuân trong lời thơ của mỗi người?

"Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại"

(Hồ Xuân Hương,Tự tình - bài II)

"Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay"

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân

(Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê)

"Mùa xuân là tết trồng cây

Làm cho đất nước ngày càng thêm xuân"

(Hồ Chí Minh)

Trả lời:

– Trong câu thơ: Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại thì hai từ xuân vừa chỉ mùa xuân, vừa chỉ tuổi xuân, sức sống của con ngươi và nhu cầu tình cảm của tuổi trẻ.

– Trong câu thơ: Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay, từ xuân trong từ cành xuân chỉ vẻ đẹp của người con gái vẫn đang trong tuổi xuân thì.

– Từ xuân trong câu thơ Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân của Nguyễn Khuyến chỉ chất men sau nồng của rượu ngon, đồng thời nghĩa bóng chỉ sức sống dạt dào, tình cảm bạn bè thắm thiết.

– Trong hai câu thơ của Hồ Chí Minh: Từ xuân thứ nhất có nghĩa gốc chỉ mùa xuân. Từ xuân trong câu thứ hai chuyển nghĩa chỉ sức sống mới, tươi đẹp.

Câu 3 trang 36 SGK Ngữ văn 11 tập 1. Cùng là từ mặt trời trong ngôn ngữ chung, nhưng mỗi tác giả trong những câu thơ sau đã có sáng tạo như thế nào khi sử dụng ?

Mặt trời xuống biển như hòn lửa.

Sóng đã cài then, đêm sập cửa.

(Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá)

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,

   Mặt trời chân lí chói qua tim.

(Tố Hữu, Từ ấy)

 Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

   Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng.

(Nguyễn Khoa Điềm, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)

Trả lời:

a. Hai câu thơ của Huy Cận: Trong hai câu thơ này, từ mặt trời được dùng với nghĩa gốc chỉ một thiên thể trong vũ trụ. Nhưng tác giả đã kết hợp sử dụng với biện pháp nhân hóa làm cho hình ảnh mặt trời trở nên gần gũi, sinh động.

b. Ở hai câu thơ của Tố Hữu: Từ mặt trời đã được chuyển nghĩa thành chân lí, lí tưởng cách mạng.

c. Hai câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm:

– Từ mặt trời trong câu thơ đầu của Nguyễn Khoa Điềm dùng để chỉ mặt trời theo nghĩa gốc.

– Từ mặt trời trong câu thứ hai dùng với nghĩa ẩn dụ, chỉ đứa con trên lưng mẹ. Đứa con là mặt trời, là niềm hạnh phúc, niềm tin và là ánh sáng của đời mẹ.

Câu 4 trang 36 SGK Ngữ văn 11 tập 1. Theo anh (chị), trong những câu sau, từ nào là từ mới được tạo ra trong thời gian gần đây? Chúng được tạo ra dựa vào những tiếng nào có sẵn và theo phương thức cấu tạo từ như thế nào?

a) Nhưng ngẫm nghĩ một chút, họ sẽ thấy những vật mọn mằn nhất chứa cả một sự thông tin sâu sắc.

(Báo Quân đội nhân dân)

b) Gái miệt vườn giỏi giắn, làm trăm công nghìn việc không biết mệt.

(Minh Tuyền)

c) Tôi được xem băng ghi hình mọi chi tiết của cuộc mổ [...] bằng ca-mê-ra chuyên dụng của chính máy nội soi.

(Quang Đẩu)

Trả lời:

a) Từ mọn mằn là từ do cá nhân tạo ra, chưa có trong ngôn ngữ chung của xã hội:

– Tiếng mọn với nghĩa “ nhỏ đến mức không đáng kể”.

– Những quy tắc cấu tạo chung:

+ Quy tắc tạo từ láy hai tiếng, lặp lại phụ âm đầu.

+ Trong hai tiếng, tiếng gốc (mọn) đặt trước, tiếng láy đặt sau.

+ Tiếng láy lặp lại phụ âm đầu, nhưng đổi thành vần ăn.

b) Trong câu (b) từ giỏi giắn cũng là từ do cá nhân tạo ra, chưa có trong ngôn ngữ chung của xã hội và cũng được tạo ra theo quy tắc trên: láy phụ âm đầu, tiếng thứ hai mang vần ăn. Từ giỏi giắn cũng có nghĩa: rất giỏi (sắc thái biểu cảm thể hiện sự mến mộ, thiện cảm).

c) Từ nội soi được tạo ra từ hai tiếng có sẵn trong ngôn ngữ là nội và soi, đồng thời dựa vào phương thức cấu tạo từ ghép chính phụ có tiếng chính chỉ hoạt động (đi sau) và tiếng bổ sung ý nghĩa (đi trước).

Ngoài cách soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân tt ngắn nhất, Đọc tài liệu tiếp tục chia sẻ cho các em học sinh cách soạn bài chi tiết, đầy đủ phía dưới đây để các em tham khảo.

Soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo) Chi tiết

Ngoài nội dung trả lời tiêu biểu được đưa ra để các em theo dõi, các em có thể xem thêm các cách trình bày khác nhau cho câu hỏi bằng cách nhấn vào từng câu để có nhiều lựa chọn tham khảo.

Bài 1 trang 35 SGK Ngữ văn 11 tập 1. Từ nách là một từ phổ biến, quen thuộc với mọi người nói tiếng Việt với nghĩa "mặt dưới chỗ cánh tay nối với ngực" (Từ điển tiếng Việt - Hoàng Phê chủ biên). Nhưng trong câu thơ dưới đây, Nguyễn Du đã có sự sáng tạo riêng khi dùng từ nách như thế nào?

"Nách tường bông liễu bay sang láng giềng"

Trả lời:

– Từ nách được Nguyễn Du sử dụng để chỉ chỗ tiếp giáp giữa hai bức tường xây chắn chung quanh nhà (góc tường).

– Tác giả đã chuyển nghĩa từ nách từ việc chỉ một bộ phận trên cơ thể con người sang chỉ một góc tường, đó là hình ảnh ẩn dụ. Nếu thay từ nách tường bằng góc tường thì giá trị của câu thơ sẽ giảm đi rất nhiều.

Bài 2 trang 36 SGK Ngữ văn 11 tập 1. Trong mỗi câu thơ sau, từ xuân được dùng theo sự sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ như thế nào? Hãy phân tích nghĩa của từ xuân trong lời thơ của mỗi người?

"Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại"

(Hồ Xuân Hương,Tự tình - bài II)

"Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay"

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân

(Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê)

"Mùa xuân là tết trồng cây

Làm cho đất nước ngày càng thêm xuân"

(Hồ Chí Minh)

Trả lời:

Từ xuân vốn mang nghĩa phổ quát là: "Mùa chuyển tiếp từ đông sang hạ, thời tiết ấm dần lên, thường được coi là mở đầu của năm" (Từ điển tiếng Việt - Hoàng Phê chủ biên) nhưng xuất hiện trong văn chương, từ xuân lại mang nhiều nghĩa khác nhau:

- Trong câu thơ: Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại (Hồ Xuân Hương). Từ xuân thứ nhất chỉ tuổi xuân, còn từ xuân thứ hai lại chỉ mùa xuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân càng khiến cho nhà thơ thêm buồn tủi, chán chường…

- Trong câu thơ sau của Nguyễn Du: Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay. Từ xuân trong cành xuân chỉ vẻ đẹp,  tuổi xuân của người con gái.

- Từ xuân (bầu xuân) trong câu thơ của Nguyễn Khuyến: Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân, có nghĩa chỉ chất men say nồng của rượu ngon, đồng thời cũng có nghĩa bóng chỉ sức sống dạt dào của tuổi trẻ, chỉ tình cảm bạn bè thắm thiết.

- Trong câu thơ của Hồ Chí Minh: Mùa xuân là tết trồng cây,/ Làm cho đất nước càng ngày càng xuân. Từ xuân thứ nhất có nghĩa gốc chỉ mùa xuân, mùa đầu tiên của năm, trong khi đó từ xuân thứ hai chỉ sức sống mới và sự tươi đẹp.

Bài 3 trang 36 SGK Ngữ văn 11 tập 1. Cùng là từ mặt trời trong ngôn ngữ chung, nhưng mỗi tác giả trong những câu thơ sau đã có sáng tạo như thế nào khi sử dụng ?

Mặt trời xuống biển như hòn lửa.

Sóng đã cài then, đêm sập cửa.

(Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá)

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,

   Mặt trời chân lí chói qua tim.

(Tố Hữu, Từ ấy)

 Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

   Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng.

(Nguyễn Khoa Điềm, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)

Trả lời:

Từ "mặt trời" trong từ điển có nghĩa là: "Thiên thể nóng sáng, ở xa Trái Đất, là nguồn chiếu sáng và sưởi ấm chủ yếu cho Trái Đất". Trong khi đó ở những câu thơ dưới đây, nó lại được dùng để chỉ những hàm nghĩa khác nhau:

a) Trong hai câu thơ của Huy Cận:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa.

Sóng đã cài then, đêm sập cửa.

Từ mặt trời được dùng với nghĩa gốc.

b) Trong khi đó, ở hai câu thơ của Tố Hữu:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,

Mặt trời chân lí chói qua tim.

Từ mặt trời lại mang ý nghĩa chỉ chân lí, lí tưởng cách mạng.

c) Trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Nguyễn Khoa Điềm viết:

 Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

   Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng.

Trong hai câu thơ này, từ mặt trời thứ nhất cũng được dùng với nghĩa gốc, từ mặt trời thứ hai được dùng với nghĩa ẩn dụ, chỉ đứa con của người mẹ. Đối với người mẹ, đứa con là cả một niềm hạnh phúc, niềm tin, mang ánh sáng cho cuộc đời của mẹ.

Bài 4 trang 36 SGK Ngữ văn 11 tập 1. Theo anh (chị), trong những câu sau, từ nào là từ mới được tạo ra trong thời gian gần đây? Chúng được tạo ra dựa vào những tiếng nào có sẵn và theo phương thức cấu tạo từ như thế nào?

a) Nhưng ngẫm nghĩ một chút, họ sẽ thấy những vật mọn mằn nhất chứa cả một sự thông tin sâu sắc.

(Báo Quân đội nhân dân)

b) Gái miệt vườn giỏi giắn, làm trăm công nghìn việc không biết mệt.

(Minh Tuyền)

c) Tôi được xem băng ghi hình mọi chi tiết của cuộc mổ [...] bằng ca-mê-ra chuyên dụng của chính máy nội soi.

(Quang Đẩu)

Trả lời:

Trong ba câu đã cho (SGK Ngữ Văn 11, tập 1, trang 36), các câu a, b có hai từ do cá nhân tạo ra, chưa có trong ngôn ngữ chung của xã hội. Chúng được tạo ra trên cơ sở một tiếng đã có sẵn cùng với quy tắc cấu tạo chung hoặc chỉ dựa vào quy tắc (mô hình, kiểu) cấu tạo chung.

a) Ở câu a, từ mọn mằn được cá nhân tạo ra khi dựa vào:

- Tiếng mọn với nghĩa là "nhỏ đến mức không đáng kể".

- Những quy tắc cấu tạo chung như:

+ Quy tắc tạo từ láy hai tiếng, lặp lại phụ âm đầu (âm m).

+ Trong hai tiếng, tiếng gốc (mọn) đặt trước, tiếng láy đặt sau.

+ Tiếng láy lặp lại phụ âm đầu, nhưng đổi vần thành vần ăn.

Đây là quy tắc tạo từ láy phổ biến trong tiếng Việt. Các từ cùng loại như: nhỏ nhắn, xinh xắn, đều đặn, may mắn, khoẻ khoắn, lành lặn, thẳng thắn, vừa vặn,...

Từ những phân tích trên, có thể thấy, từ mọn mằn trong trường hợp này được dùng với nghĩa: nhỏ nhặt, tầm thường, không đáng kể.

b) Trong câu b, từ giỏi giắn cũng được tạo ra theo những quy tắc như trên: láy phụ âm đầu, tiếng thứ hai mang vần ăn. Từ giỏi giắn cũng có nghĩa: rất giỏi (sắc thái biểu cảm thể hiện sự mến mộ, thiện cảm).

c) Trong câu c, từ nội soi được tạo ra từ hai tiếng có sẵn trong ngôn ngữ là nội và soi, đồng thời dựa vào phương thức cấu tạo từ ghép chính phụ có tiếng chính chỉ hoạt động (đi sau) và tiếng phụ bổ sung ý nghĩa (đi trước). Phương thức cấu tạo từ này giống với phương thức tạo ra các từ như: ngoại xâm, ngoại nhập,...

Ngoài cách soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân - tiếp theo chi tiết, Đọc tài liệu tiếp tục chia sẻ cho các em học sinh cách soạn bài hay nhất, đầy đủ nhất phía dưới đây để các em tham khảo.

Soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân tiếp theo Hay nhất

Câu 1 (trang 35 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Từ nách là một từ phổ biến, quen thuộc với mọi người nói tiếng Việt với nghĩa "mặt dưới chỗ cánh tay nối với ngực" (Từ điển tiếng Việt - Hoàng Phê chủ biên). Nhưng trong câu thơ dưới đây, Nguyễn Du đã có sự sáng tạo riêng khi dùng từ nách như thế nào?

"Nách tường bông liễu bay sang láng giềng"

Trả lời:

Từ nách trong câu thơ của Nguyễn Du là để chỉ vị trí tiếp giáp giữa hai bức tường của hai nhà gần nhau. Việc sử dụng từ nách trong câu thơ khiến cho câu thơ càng tăng sức gợi hình, gợi cảm và người đọc có thể hình dung khoảng cách giữa hai nhà chỉ gần trong gang tấc. Nếu thay thế từ nách bằng từ vách hay tường thì câu thơ sẽ mất đi giá trị, mất đi cái hay của nó.

Từ nách trong câu thơ được sử dụng với nghĩa chuyển theo cách ẩn dụ. Vì giữa nghĩa thực và nghĩa chuyển có nét tương đồng đều là vị trí tiếp giáp, một cái là trên cơ thể con người, một cái là của sự vật.

Câu 2 (trang 36 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Trong mỗi câu thơ sau, từ xuân được dùng theo sự sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ như thế nào? Hãy phân tích nghĩa của từ xuân trong lời thơ của mỗi người?

"Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại"

(Hồ Xuân Hương,Tự tình - bài II)

"Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay"

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân

(Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê)

"Mùa xuân là tết trồng cây

Làm cho đất nước ngày càng thêm xuân"

(Hồ Chí Minh)

Trả lời:

Từ xuân theo nghĩa thực là để chỉ một mùa trong năm. Đây là mùa chuyển tiếp từ mùa đông sang hạ. Thời tiết ấm áp hơn, vạn vật đâm chồi nảy lộc. Mùa xuân thường được coi là mùa mở đầu của một năm.

Các từ xuân trong các câu thơ trên vừa mang nghĩa thực nhưng cũng vừa mang nghĩa ẩn dụ

Câu 1: Xuân ở đây ngoài để chỉ một mùa của năm còn là để chỉ tuổi thanh xuân của người phụ nữ. Xuân của đất trời cứ đến rồi đi, cứ đi rồi sẽ quay lại. Nhưng tuổi trẻ của con người, đặc biệt là người phụ nữ sẽ chẳng thể nào trở lại được nữa. Sự trở lại của mùa xuân cũng đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi trẻ. Nỗi buồn tiếc, chán chường của nhân vật trức tình cũng vì thế mà được nhân lên gấp bội.

Câu 2: Xuân ở đây để chỉ vẻ đẹp, sự tròn đầy, viên mẫn của người con gái - chỉ vẻ đẹp, sự trinh trắng của Thúy Kiều. Câu thơ là sự băn khoăn, lo lắng của  Kiều khi nghĩ đến việc khi Kim Trọng trở lại hỏi thăm Thúy Kiều thì mới hay tin Kiều đã sang tay kẻ khác mà đau đớn, xót xa.

Câu 3: Xuân trong câu thơ để chỉ mùi thơm của rượu ngon, cay nồng và hấp dẫn. Nhưng đồng thời nó cũng là từ biểu trưng cho tuổi trẻ, sức sống dào dạt của con người và tình bạn thắm thiết giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê.

Câu 4: Có 2 từ xuân. Từ xuân thứ nhất mang nghĩa thực, để chỉ mùa xuân của thiên nhiên đất trời với sức sống dồi dào, mãnh liệt. Còn từ xuân thứ hai mang nghĩa chuyển chỉ sự phát triển, sức sống và tự do.

Câu 3 (trang 36 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Cùng là từ mặt trời trong ngôn ngữ chung, nhưng mỗi tác giả trong những câu thơ sau đã có sáng tạo như thế nào khi sử dụng ?

Mặt trời xuống biển như hòn lửa.

Sóng đã cài then, đêm sập cửa.

(Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá)

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,

   Mặt trời chân lí chói qua tim.

(Tố Hữu, Từ ấy)

 Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

   Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng.

(Nguyễn Khoa Điềm, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)

Trả lời:

a)

Mặt trời trong câu thơ mang nghĩa thực, là mặt trời của tự nhiên đang trong thời điểm hoàng hôn, khi mặt trời chuẩn bị lặn xuống phía Tây.

Tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh mặt trời với hòn lửa để làm tăng sức gợi hình của mặt trời, giúp người đọc hình dung về màu đỏ rực và những tia nắng cuối ngày cũng chuyển sang màu đỏ đậm sánh như thế. Mặt trời được nhìn từ xa như hòn lửa khổng lồ đang lặn xuống biển sâu.

b)

Mặt trời trong câu thơ mang nghĩa chuyển, là Mặt trời chân lí tức là ánh sáng của lí tưởng cách mạng đã đến với người thanh niên trẻ tuổi Tố Hữu vào lúc ông cần nó nhất, khi bơ vơ, lạc lõng với cuộc đời, sống không có lí tưởng.

Mặt trời trong câu thơ được sử dụng cách chuyển theo nghĩa ẩn dụ vì mặt trời thực và chân lí cách mạng có nhiều nét tương đồng. Mặt trời thực đem tới ánh sáng và sự sống cho vạn vật, tạo điều kiện cho chúng sinh trưởng và phát triển. Còn chân lí cách mạng cũng mang đến ánh sáng và sự sống cho con người Việt Nam khi đưa nhân dân ta thoát khỏi bóng tối của kiếp nô lệ và hướng tới sự tự do, hạnh phúc trong tương lai.

c)

Mặt trời  thứ nhất là mặt trời thực, mặt trời của tự nhiên. Còn mặt trời thứ hai mang nghĩa chuyển chỉ em bé - đứa con bé nhỏ của người mẹ Tày, đang ngủ ngon lành trên lưng khi mẹ lên rẫy làm việc.

Mặt trời thứ hai được sử dụng theo nghĩa chuyển ẩn dụ vì mặt trời thực và em bé cũng có điểm tương đồng. Em bé chính là ánh sáng, sự sống trong cuộc đời của người mẹ. Mẹ có thể làm mọi thứ để bảo vệ em, nuôi em khôn lớn và trưởng thành.

Câu 4 (trang 36 SGK Ngữ văn 11 tập 1). Theo anh (chị), trong những câu sau, từ nào là từ mới được tạo ra trong thời gian gần đây? Chúng được tạo ra dựa vào những tiếng nào có sẵn và theo phương thức cấu tạo từ như thế nào?

a) Nhưng ngẫm nghĩ một chút, họ sẽ thấy những vật mọn mằn nhất chứa cả một sự thông tin sâu sắc.

(Báo Quân đội nhân dân)

b) Gái miệt vườn giỏi giắn, làm trăm công nghìn việc không biết mệt.

(Minh Tuyền)

c) Tôi được xem băng ghi hình mọi chi tiết của cuộc mổ [...] bằng ca-mê-ra chuyên dụng của chính máy nội soi.

(Quang Đẩu)

Trả lời:

a) Từ mọn mằn là từ do cá nhân tạo ra, chưa có trong ngôn ngữ chung của xã hội:

– Tiếng mọn với nghĩa “ nhỏ đến mức không đáng kể”.

– Những quy tắc cấu tạo chung:

+ Quy tắc tạo từ láy hai tiếng, lặp lại phụ âm đầu.

+ Trong hai tiếng, tiếng gốc (mọn) đặt trước, tiếng láy đặt sau.

+ Tiếng láy lặp lại phụ âm đầu, nhưng đổi thành vần ăn.

b) Trong câu (b) từ giỏi giắn cũng là từ do cá nhân tạo ra, chưa có trong ngôn ngữ chung của xã hội và cũng được tạo ra theo quy tắc trên: láy phụ âm đầu, tiếng thứ hai mang vần ăn. Từ giỏi giắn cũng có nghĩa: rất giỏi (sắc thái biểu cảm thể hiện sự mến mộ, thiện cảm).

c) Từ nội soi được tạo ra từ hai tiếng có sẵn trong ngôn ngữ là nội và soi, đồng thời dựa vào phương thức cấu tạo từ ghép chính phụ có tiếng chính chỉ hoạt động (đi sau) và tiếng bổ sung ý nghĩa (đi trước).

B - Kiến thức cơ bản về ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân

Lý thuyết chung

Xem lại kiến thức lí thuyết trong phần hướng dẫn soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân ở tuần trước.

Trước tiên, cùng nhắc lại một số nội dung kiến thức lí thuyết chủ yếu trong bài học:

* Một số khái niệm

- Ngôn ngữ chung của xã hội là cơ sở để sản sinh và lĩnh hội lời nói cá nhân.

- Lời nói cá nhân là thực tế sinh động, hiện thực hóa những yếu tố chung, những quy tắc và phương thức chung của ngôn ngữ.

* Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân

- Giữa ngôn ngữ chung của cộng đồng và lời nói của cá nhân có mối quan hệ hai chiều:

+ Ngôn ngữ chung của xã hội là cơ sở để mỗi cá nhân sản sinh ra những lời nói cụ thể của mình, đồng thời lĩnh hội được lời nói của cá nhân khác

+ Lời nói cá nhân vừa có biểu hiện của ngôn ngữ chung, vừa có những nét riêng. Hơn nữa cá nhân có thể sáng tạo, góp phần làm biến đổi và phát triển ngôn ngữ chung

- Chính sự biến đổi và chuyển hóa diễn ra trong lời nói cá nhân dần dần góp phần hình thành và xác lập những cái mới trong ngôn ngữ, nghĩa là làm cho ngôn ngữ chung phát triển.

Ghi nhớ

Ngôn ngữ chung của xã hội là cơ sở để sản sinh và lĩnh hội lời nói cá nhân. Ngược lại trong lời nói cá nhân vừa có phần biểu hiện của ngôn ngữ chung vừa có những nét riêng. Hơn nữa cá nhân có thể sáng tạo, góp phần làm biến đổi và phát triển ngôn ngữ chung.

-/-

Với những thông tin, kiến thức tổng hợp lại phía trên bao gồm: hướng dẫn giải bài tập SGK, lý thuyết bài học, hi vọng các em sẽ soạn bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (tiếp theo) tốt nhất để chuẩn bị bài trước khi đến lớp.

Tâm Phương (Tổng hợp)

TẢI VỀ

Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi
Chưa

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM