Soạn bài Thơ Hai-cư của Ba-sô

Hướng dẫn soạn bài Thơ Hai-cư của Ba-sô, trả lời các câu hỏi đọc hiểu bài Thơ Hai-cư trang 155 SGK Ngữ văn lớp 10 tập 1.

    Tài liệu hướng dẫn soạn bài Thơ Hai-cư của Ba-sô ngắn gọn nhất mà vẫn đầy đủ ý giúp học sinh tự học và tìm hiểu về tác phẩm một cách dễ dàng, nắm bắt được những nội dung chính cũng như đặc sắc nghệ thuật của bài.

Với những hướng dẫn chi tiết trả lời câu hỏi sách giáo khoa dưới đây các em không chỉ soạn bài tốt mà còn nắm vững các kiến thức quan trọng của tác phẩm này.

Cùng tham khảo...

Soạn bài Thơ Hai-cư của Ba-sô

Hướng dẫn soạn bài Thơ Hai-cư của Ba-sô ngắn gọn

Gợi ý trả lời các câu hỏi đọc hiểu soạn bài Thơ Hai-cư của Ba-sô ngắn gọn trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1.

Câu 1 trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

Tình cảm thân thiết của nhà thơ với thành phố E-đô và nỗi niềm hoài cảm về kinh đô Ki-ô-tô đẹp đẽ đầy kỉ niệm được thể hiện như thế nào trong bài 1 và 2?

Trả lời:

- Bài 1: Ba-sô quê ở Mi-ê. Ông dời lên Ê-đô ở được mười năm mới về thăm lại quê. Ở Ê-đô, ông rất nhớ quê nhưng khi về quê rồi thì ông lại nhớ Ê-đô, thấy Ê-đô thân thiết như quê hương mình. Bài thơ thể hiện tình yêu, sự gắn bó sâu nặng với mảnh đất nơi mình sống.

- Bài 2: Tiếng chim đỗ quyên được tác giả nghe được khi quay trở lại Ki-ô-tô sau hai mươi năm xa cách. Tiếng chim gợi nhớ đến một Ki-ô-tô của quá khứ nay đã xa. Sự tiếc đó có được là nhờ tiếng chim buồn thê thiết kia đồng vọng hay là tiếng lòng của tác giả.

Câu 2 trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

  Tình cảm đối với mẹ và em bé bỏ rơi thể hiện như thế nào trong ba bài 3, 4?

Trả lời:

- Bài 3: Tình cảm của tác giả đối với mẹ khi mẹ qua đời: sự xót thương, đau đớn. Hình ảnh “làn sương thu” mơ hồ là để chỉ cho giọt lệ như sương hay mái tóc mẹ như sương, cuộc đời như hạt sương ngắn ngủi vô thường. Sương - tóc - lệ tan hòa, tạo nên hình tượng thơ mờ ảo, đa nghĩa.

- Bài 4: Bài thơ gợi lên sự thực nhói đau ở Nhật Bản ngày xưa: sự mất mùa, đói kém, nhà không có đủ ăn nên phải bỏ con vào rừng hoặc giết bỏ. Bởi vậy mà khi nghe tiếng vượn hú, Ba-sô đã liên tưởng đến tiếng khóc của trẻ con.

Câu 3 trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

   Qua bài 5, anh (chị) cảm nhận được vẻ đẹp gì trong tâm hồn nhà thơ?

Trả lời:

Vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ qua bài 5: Hình ảnh chú khỉ đơn độc trong bài thơ gợi lên hình ảnh người nông dân Nhật Bản, gợi hình ảnh những em bé nghèo đang co ro trong cơn lạnh. Bài thơ thể hiện lòng từ bi với những sinh vật tội nghiệp và tình thương yêu sâu sắc của nhà thơ đối với những kiếp người nghèo khổ.

Câu 4 trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

Mối tương giao giữa các sự vật hiện tượng trong vũ trụ được thể hiện như thế nào ở bài 6,7 ?

Trả lời:

Vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ qua bài 5: Hình ảnh chú khỉ đơn độc trong bài thơ gợi lên hình ảnh người nông dân Nhật Bản, gợi hình ảnh những em bé nghèo đang co ro trong cơn lạnh. Bài thơ thể hiện lòng từ bi với những sinh vật tội nghiệp và tình thương yêu sâu sắc của nhà thơ đối với những kiếp người nghèo khổ.Về bài 6:

- Bài thơ miêu tả cảnh mùa xuân, mùa hoa anh đào nở.

- Tác giả liên tưởng cánh hoa đào phớt hồng, mỏng manh như giấy, lả tả bay, rụng xuống hồ và làm mặt nước gợn sóng

- Hình ảnh đẹp đẽ chứa đựng triết lí sâu sắc: sự tương giao mọi vật trong vũ trụ, mọi vật trong thế giới tác động qua lại lẫn nhau, không thể tồn tại độc lập

Về bài 7:

- Sự im lặng huyền diệu, trong cảnh u tịch có tiếng ve ngâm như thấm sâu vào đá

- Một liên tưởng độc đáo, không hề thậm xưng bởi cảnh u huyền đó là có thực và con người chìm vào thế giới suy tưởng của bản thân.

Câu 5 trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

    Khát vọng được sống, được tiếp tục lãng du của Ba-sô được thể hiện như thế nào trong bài 8?

Trả lời:

- Khát vọng sống được thể hiện khi tác giả viết bài thơ này trong hoàn cảnh già yếu và sắp giã từ cuộc sống.

- Cuộc đời Ba-sô gắn liền với hình ảnh của những chuyến du hành, lang thang.

Câu 6* trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

Tìm "quý ngữ" và cảm thức về cái vắng lặng, đơn sơ, u huyền trong các bài thơ 6,7,8 ?

 Trả lời:

Quý ngữ trong các bài thơ:

+ Bài 6: hoa đào (chỉ mùa xuân)

+ bài 7: tiếng ve (chỉ mùa hè)

+ Bài 8: cánh đồng hoang vu (chỉ mùa đông)

- Cảm thức thẩm mĩ trong các bài thơ trên:

Thiên nhiên trong thơ Hai – cư của Ba – sô thường là những cảnh rất bình dị, nhỏ bé, tầm thường, cánh hoa đào lả tả, tiếng ve, cánh đồng hoang vu… thế nhưng qu tâm hồn nhạy cảm và cái nhìn hết sức tinh tế của nhà thơ, nó vẫn có những nét thẩm mĩ rất riêng, rất đẹp và rất thanh. Ba bài thơ 6,7, và 8 của Ba – sô đều miêu tả những cảnh rất đơn sơ, đặc biệt là rất vắng lặng (cánh hoa đào mỏng manh rơi lại có thể làm cho mặt hồ gợn sóng); u huyền (âm thanh của tiếng ve ngâm tưởng như thấm sâu vào đá, một linh hồn sắp lìa khỏi thế gian mà vẫn muốn tiếp tục lang thang trên khắp những cánh đồng hoang vu, bất tận), từ đó khơi gợi trí tưởng tượng phong phú cho người đọc, đồng thời hướng người đọc đến những triết lí nhân sinh giản đơn mà sâu sắc.

Hướng dẫn soạn bài Thơ Hai-cư của Ba-sô chi tiết

Gợi ý trả lời các câu hỏi đọc hiểu soạn bài Thơ Hai-cư của Ba-sô chi tiết trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1.

Bài 1 trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

Tình cảm thân thiết của nhà thơ với thành phố E-đô và nỗi niềm hoài cảm về kinh đô Ki-ô-tô đẹp đẽ đầy kỉ niệm được thể hiện như thế nào trong bài 1 và 2?

Trả lời:

- Bài 1: là nỗi nhớ về Ê-đô (Tô-ki-ô ngày nay). Đã mười mùa sương xa quê, tức là mười năm đằng đẵng nhà thơ sống ở E-đô. Có một lần trở về quê cha đất tổ ông không thể nào quên được Ê-đô. Mười mùa sương gợi lòng lạnh giá của kẻ xa quê. Vậy mà về quê lại nhớ E-đô. Tình yêu quê hương đất nước đã hòa làm một.

- Bài 2: Ki-ô-tô là nơi Ba-sô sống thời trẻ (1666 - 1672). Sau đó ông chuyển đến Ê-đô. Hai mươi năm sau trở lại Ki-ô-tô nghe tiếng chim đỗ quyên hót ông đã làm bài thơ này. Bài thơ là sự hoài cảm qua tiếng chim đỗ quyên, loài chim báo mùa hè, tiếng khắc khoải gọi lại kỉ niệm một thời tuổi trẻ. Đó là tiếng lòng da diết xen lẫn buồn, vui mơ hồ về một thời xa xăm. Thơ Ba-sô đã gây ấn tượng đầy lãng mạn. Câu thơ cũng bồng bềnh trong khẳng định thầm lặng của nỗi nhớ, sự hoài cảm.

Bài 2 trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

  Tình cảm đối với mẹ và em bé bỏ rơi thể hiện như thế nào trong ba bài 3, 4?

Trả lời:

- Bài 3:

Lệ trào nóng hổi

tan trên tay tóc mẹ

làn sương thu

Năm 40 tuổi, Ba-sô làm một cuộc du hành đến Kan-sai gần quê nhà. Về đến nhà thì hay tin mẹ mất. Người ta đưa lại di vật cho ông là một mớ tóc bạc. Ông đau đớn mà viết nên bài thơ này.

Bài thơ thấm đượm nỗi xót xa tình mẫu tử, nhất là đó lại là nỗi lòng của đứa con xa xứ, đã không chăm sóc được mẹ già lại không được nhìn thấy mẹ lần cuối trước lúc mẹ mãi mãi ra đi. Nỗi xót xa đau đớn của nhà thơ thể hiện ở giọt lệ nóng hổi rơi xuống bàn tay đang cầm mớ tóc của người mẹ đã khuất. Quý ngữ (từ chỉ mùa) của bài thơ là sương thu. Sương thu ở trong câu thơ có nhiều ý nghĩa. Làn sương thu ở đây là giọt lệ như sương của đứa con trai về muộn, hay nó gợi về hình ảnh mái tóc của mẹ bạc như sương, hay nó chỉ cuộc đời như giọt sương, ngắn ngủi vô thường,… Sương – tóc – lệ tan hòa, tạo lên hình tượng thơ mờ ảo và đa nghĩa.

- Bài 4:

Bài thơ này ra đời trong một hoàn cảnh khá đặc biệt. Trong du kí Phơi thân đồng nội viết năm 1685, Ba-sô có kể chuyện một lần đi qua một cánh rừng, ông có nghe thấy tiếng vượn hú. Tiếng hú ấy gợi ông nhớ đến tiếng khóc của một em bé bị bỏ rơi trong rừng:

Tiếng vượn hú não nề

hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc

gió mùa thu tái tê

Bài thơ gợi lại một sự thực nhói đau ở Nhật ngày xưa. Đó là vào những năm mất mùa, đói kém, có nhà không nuôi nổi con phải bỏ con vào rừng. Thậm chí còn đang tâm giết đứa trẻ nữa. Những câu chuyện như thế không biết từ bao giờ đã trở thành một ấn tượng sâu đậm hằn in vào tâm khảm nhà thơ. Vì thế, nghe tiếng vượn hú não nề trong rừng vắng mà Ba-sô lại liên tưởng đến tiếng người.

Dẫu vẫn biết đó là một tưởng tượng của nhà thơ, thế nhưng trong gió mùa thu, ta như đang nghe thấy tiếng trẻ con khóc thật. Tiếng khóc của trẻ con khiến cho gió mùa thu thêm tê tái hay tiếng gió mùa thu kia đang than khóc cho nỗi đau của con người? Sự đa nghĩa tiềm tàng trong thơ hai-cư là thế. Nội dung ý nghĩa của mỗi bài thơ luôn còn là một khoảng mở dành cho kinh nghiệm sống và sự rung động riêng của mỗi người phát huy.

Bài 3 trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

   Qua bài 5, anh (chị) cảm nhận được vẻ đẹp gì trong tâm hồn nhà thơ?

Trả lời:

Bài thơ này Ba-Sô sáng tác khi đi du hành ngang qua một cánh rừng, ông thấy một chú khỉ nhỏ đang lạnh run lên trong cơn mưa mùa đông. Nhà thơ tưởng tượng thấy chú khỉ đang thầm ước có một chiếc áo tơi để che mưa, che lạnh.

Hình ảnh chú khỉ đơn độc trong bài thơ gợi lên hình ảnh người nông dân Nhật Bản, gợi hình ảnh những em bé nghèo đang co ro trong cơn lạnh. Bài thơ thể hiện tình thương yêu sâu sắc của nhà thơ đối với những kiếp người nghèo khổ.

Bài 4 trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

Mối tương giao giữa các sự vật hiện tượng trong vũ trụ được thể hiện như thế nào ở bài 6,7 ?

Trả lời:

- Ở bài 6, chúng ta bắt gặp cánh "hoa đào lả tả" và sóng nước hồ Bi- wa. Hoa đào lả tả rụng báo hiệu mùa xuân ở Nhật Bản đã qua. Đây là thời kì chuyển giao mùa.

Cái nhỏ bé nhất, đơn sơ nhất, tưởng như không có sinh linh nhưng cũng vẫn mang trong mình mối tương quan giao hòa, chuyển hóa của vũ trụ. Một cánh hoa đào mỏng tang nhỏ xíu cũng khiến hồ Bi-wa nổi sóng.

- Đến bài 7, ta bắt gặp "tiếng ve ngâm", đặc trưng của mùa hè. Sự liên tưởng về chuyển giao mùa được hòa cảm trong cái nhìn, sự cảm giao và lắng nghe âm thanh. Xúc cảm ấy của nhà thơ thật tinh tế. Hình ảnh thơ rất đẹp: Hoa đào, hồ Bi-wa và tiếng ve ngân không chỉ lan tỏa trong không gian mà còn thấm sâu vào đá, đang vật chất biểu tượng cho tính cứng cỏi. Câu thơ đằm trong cảm nhận sâu sắc, thắm trong cái tình của con người với thiên nhiên, tạo vật.

Bài 5 trang 157 SGK Ngữ văn 10 tập 1

    Khát vọng được sống, được tiếp tục lãng du của Ba-sô được thể hiện như thế nào trong bài 8?

Trả lời:

Nằm mộng giữa cuộc lãng du

mộng hồn còn phiêu bạt

những cánh đồng hoang vu

Bài thơ này Ba –sô viết ở Osaka (1694). Đây là bài thơ từ thế của ông. Trước đó Ba – sô đã thấy sức lực của mình yếu lắm rồi, như một cánh chim sắp sửa bay khuất vào chân trời vô tận. Thế nhưng trước cái chết, Ba – sô không hề bi lụy. Cả cuộc đời mình, Ba – sô đã lang thang, phiêu lãng khắp nơi nơi. Vì thế ngay cả khi sắp từ giã coi đời, ông vẫn còn lưu luyến lắm, vẫn còn muốn tiếp tục cuộc đi – đi bằng hồn mình. Bài thơ như là một bức thông điệp cho cái tâm nguyện ấy. Và đúng là đọc bài thơ ta lại như thấy hồn Ba – sô đang tiếp tục lang thang trên khắp những cánh đồng hoang vu, bất tận.

6* - Trang 157 SGK

Tìm "quý ngữ" và cảm thức về cái vắng lặng, đơn sơ, u huyền trong các bài thơ 6,7,8 ?

 Trả lời:

- Trong bài thơ số 6, quý ngữ của bài chính là "cánh hoa đào". Đó là hình ảnh gợi nên mùa xuân tươi đẹp. Cảm thức thẩm mĩ về cái đơn sơ của bài hai-cư này chính là những triết lí sâu sắc rút ra được từ bức tranh mùa xuân tươi đẹp kia.

- Ở bài thơ số 7, quý ngữ của bài nằm trong hình ảnh "tiếng ve ngâm". Đó là âm thanh vang vọng nhất của mùa hè. Và cảm thức thẩm mĩ của bài thơ nằm chính trong sự u huyền, tịch mịch của không gian khi mà tiếng ve rền rĩ kia như từng giọt âm thanh thấm sâu vào từng kẽ đá.

- Quý ngữ của bài thơ số 8 lại nằm ở "những cánh đồng hoang vu". Từ những cánh đồng hoang vu hiện lên trong giấc mơ khi tuổi già xế bóng, khi tiếng chim kêu như sắp lịm đi kia gợi lên một mùa thu hiu quạnh và cảm thức thẩm mĩ của bài hai-cư cũng ẩn sâu trong cái vắng lặng đó.

>>> Đọc thêmPhân tích bài Thơ hai-cư của Ba-sô

Kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm

I. Tác giả

- Ma-su-ô Ba-sô (Mastuo Bashoo, 1644 – 1694) là nhà thơ hàng đầu của Nhật Bản, sinh ra ở tỉnh I-ga (nay là tỉnh Mi-ê) trong một gia đình võ sĩ cấp thấp.

- Năm 28 tuổi, ông chuyển đến Ê-đô (Tô-ki-ô) sống và làm thơ Hai-cư với bút hiệu Ba-sô (Ba Tiêu)

- Mười năm cuối đời, ông đi khắp đất nước viết du kí và sáng tác thơ Hai-cư. Thơ ông mang tính chất đơn sơ, tao nhã, cô liêu, trầm lắng, u buồn, nhưng không chán chường, bi luỵ hay oán đời.

- Ông trút hơi thở cuối cùng tại O-sa-ka khi mới 50 tuổi.

- Các tác phẩm của ông: du kí Phơi thần đồng nội (1685), Đoản văn trong đây (1668), Cánh đồng hoang (1689), Áo tơi cho khỉ (1691), và nổi tiếng nhất là Lối lên miền Ô-ku (1689)... Các tác phẩm của ông để lại khá nhiều, sau này được sưu tập lại trong Ba Tiêu thất bộ tập.

II. Tác phẩm

- Thể thơ: Hai-cư

Thơ hai-cư là thể thơ vào loại ngắn nhất thế giới, chỉ có 17 âm tiết (một số bài nhiều hơn một chút), ngắt nhịp thành 3 đoạn, theo thứ tự thường là: 5 âm - 7 âm - 5 âm). Mỗi bài thơ hai-cư đều có một tứ thơ nhất định và thường chỉ ghi lại một phong cảnh với vài sự vật cụ thể, trong một thời điểm nhất định, để từ đó khơi gợi lên một cảm xúc, một suy tư nào đó.

- Nội dung chủ đề: Thơ Hai-cư của Ba-sô hướng đến cái đẹp của thiên nhiên và của tình người được ẩn sau lớp ngôn từ ngắn ngủi và tinh tế.

Tổng kết

  • Thơ hai-cư rất ngắn, cô đọng, hàm súc, một bài thơ chỉ có 3 câu (câu 1 và câu 3 có năm âm tiết, câu 2 có bảy âm tiết), không có dấu câu, thường phản ánh vẻ đẹp thiên nhiên và tâm trạng con người trước thiên nhiên.
  • Thơ Hai-cư của Ba-sô hướng đến cái đẹp của thiên nhiên và của tình người được ẩn sau lớp ngôn từ ngắn ngủi và tinh tế. Đằng sau những vần thơ câu chữ là một tâm hồn dạt dào cảm xúc, khao khát về một cuộc sống "đẹp", một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế.

//Trên đây là nội dung chi tiết bài soạn Thơ Hai-cư của Ba-sô do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn. Hi vọng rằng nội dung của bài hướng dẫn soạn văn 10 bài Thơ Hai-cư của Ba-sô này sẽ giúp các em ôn tập và nắm vững các kiến thức quan trọng của tác phẩm. Chúc các em luôn đạt được những kết quả cao trong học tập.

[ĐỪNG SAO CHÉP] - Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Thơ Hai-cư của Ba-sô một cách tốt nhất. "Trong cách học, phải lấy tự học làm cố" - Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Tâm Phương (Tổng hợp)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TẢI VỀ

X