Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương giúp bạn hoàn thành bài soạn chuyện người con gái Nam Xương tốt hơn

Tài liệu hướng dẫn soạn bài chuyện người con gái Nam Xương này chắc chắn sẽ giúp bạn hoàn thành bài soạn của mình hay - độc và đặc sắc hơn.

Đừng bỏ lỡ nhé....

Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương

Cùng tham khảo ngay...

Phần nội dung dưới đây sẽ giúp các em trả lời các câu hỏi soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương trang 51 và 52 sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập 1.

Đọc - Hiểu văn bản

1. Tìm bố cục của truyện.

2. Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong hoàn cảnh nào? Ở từng hoàn cảnh, Vũ Nương bộc lộ những đức tính gì?

3. Vì sao Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất? Từ đó em cảm nhận được điều gì về thân phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến?

4. Hãy nêu nhận xét về cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện, những lời trần thuật và những lời đối thoại trong truyện?

5. Tìm những yếu tố kì ảo trong truyện. Đưa những yếu tố kì ảo vào một câu chuyện quen thuộc, tác giả nhằm thể hiện điều gì?

Luyện tập: Hãy kể lại Chuyện người con gái Nam Xương theo cách của em.

Soạn bài chuyện người con gái Nam Xương chi tiết

Bài 1 trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Tìm bố cục của truyện.

Bố cục của Chuyện người con gái Nam Xương gồm 3 đoạn:

• Đoạn 1 (từ đầu đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”): Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa chồng.

• Đoạn 2 ("Qua năm sau... nhưng việc trót đã qua rồi"): Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương.

• Đoạn 3 (phần còn lại): Cuộc gặp gỡ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động Linh Phi. Vũ Nương được giải oan.

Bài 2 trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong hoàn cảnh nào? Ở từng hoàn cảnh, Vũ Nương bộc lộ những đức tính gì?

Tác giả đã đặt nhân vật Vũ Nương vào nhiều hoàn cảnh khác nhau với từng hoàn cảnh, tác giả lại sử dụng những lời lẽ đẹp đẽ để thể hiện tính cách đáng yêu, đáng quý trong cách cư xử của nàng.

- Cảnh 1: Trong cuộc sống vợ chồng bình thường: Nàng đã xử sự như thế nào trước tính hay ghen của Trường Sinh? ("Giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà").

- Cảnh 2: Khi tiễn chồng đi lính: Lời dặn dò đầy tình nghĩa của Vũ Nương: không trông mong vinh hiển, chỉ cầu cho chồng bình an trở về, cảm thông những nỗi vất vả, gian lao của chồng, nói lên nỗi khắc khoải nhớ nhung của mình.

- Cảnh 3: Khi xa chồng: Vũ Nương là người thủy chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo năm tháng. Nàng còn là mẹ hiền, dâu thảo, một mình vừa nuôi con nhỏ, vừa tận tình chăm sóc mẹ già những lúc yếu đau, lo thuốc thang, cầu khấn thần phật, và lúc nào cũng dịu dàng, ân cần "lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn"

. Trong lời trăn trối của bà mẹ chồng, thể hiện sự ghi nhận nhân cách và đánh giá cao công lao của nàng đối với gia đình nhà chồng. “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”.

- Cảnh 4: Khi bị chồng nghi oan: Ở đây có ba lời thoại của Vũ Nương:

+ Lời thoại 1: Phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình. Vũ Nương nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng, cầu xin chồng đừng nghi oan. Qua đó ta thấy nàng đã hết lòng tìm cách hàn gắn cái hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.

+ Lời thoại 2: Nói lên nỗi đau đớn, thất vọng khi không hiểu vì sao lại bị đối xử bất công, bị "mắng nhiếc,... và đánh đuổi đi, không có quyền được tự bảo vệ, ngay cả khi có “họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho”. Hạnh phúc gia đình (“thú vui nghị gia nghi thất”), niềm khao khát của cả đời nàng đã tan vỡ, tình yêu không còn ("bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió..."), cả nỗi đau khổ chờ chồng đến thành hoá đá trước đây cũng không còn có thể làm lại được nữa (đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa").

+ Lời thoại 3: Thất vọng đến tột cùng, cuộc hôn nhân đã đến độ không thể nào hàn gắn được, Vũ Nương đành mượn dòng nước con sông quê hương để giải tỏ tấm lòng trong trắng của mình, nàng “tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang, ngửa mặt lên trời mà than rằng...”. Lời than như một lời nguyền, xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất và tiết sạch giá trong của nàng. Tình tiết được sắp xếp đầy kịch tính. Vũ Nương bị dồn đẩy đến bước đường cùng. Hành động tự trẫm mình của nàng là một hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự, có nỗi tuyệt vọng nhưng cũng có sự chỉ đạo của lí trí, không phải là hành động bột phát trong cơn nóng giận.

Sau khi phân tích qua cả bốn tình huống, ta thấy Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục, lại đảm đang, tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một dạ thủy chung với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình. Một con người như thế đáng ra phải được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà lại phải chết một cách oan uổng, đau đớn.

Bài 3 trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Vì sao Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất? Từ đó em cảm nhận được điều gì về thân phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến?

Trương Sinh trở thành một kẻ vũ phu, thô bạo “mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi", dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương. Cái chết đó khác nào bị bức tử, mà kẻ bức tử lại hoàn toàn vô can.

Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ. Người phụ nữ đức hạnh ở đây không những không được bênh vực, chở che mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lí, chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình.

Trong xã hội phong kiến, phụ nữ bị buộc chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử bất công, bị áp bức và chịu nhiều khổ đau, bất hạnh.

Đó cũng chính là giá trị tố cáo hiện thực của tác phẩm. Đằng sau nỗi oan của người thiếu phụ Nam Xương còn bao oan tình uất hận mà những người phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu: nàng Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, người phụ nữ lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương.

Xem thêm những bài văn phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương

Bài 4 trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Hãy nêu nhận xét về cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện, những lời trần thuật và những lời đối thoại trong truyện?

- Tác giả khéo sắp xếp, thêm bớt hoặc tô đậm các tình tiết để câu chuyện hấp dẫn và sinh động hơn. Thí dụ thêm chi tiết Trương Sinh “đem trăm lạng vàng” cưới Vũ Nương, cuộc hôn nhân trở nên có tính chất mua bán, lời trăng trối của bà mẹ chồng, những lời phân trần, giãi bày của nàng khi bị nghi oan và hành động bình tĩnh, quyết liệt của nàng khi tìm đến cái chết... Lời nói của đứa trẻ, được đưa ra dần dần và thông tin ngày một gay cấn, truyện trở nên kịch tính hơn, gợi cảm, xúc động hơn.

- Những đoạn đối thoại và những lời tự bạch của nhân vật được sắp xếp rất đúng chỗ, làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần không nhỏ vào việc khắc hoạ quá trình tâm lí và tính cách nhân vật (lời nói của bà mẹ Trương Sinh; lời của Vũ Nương chân thành, dịu dàng, mềm mỏng, có tình, có lí, là lời của một người phụ nữ hiền thục, nết na, trong trắng, lời đứa trẻ hồn nhiên, thật thà...)

• Thắt nút truyện bằng yếu tố bất ngờ. Một câu nói ngây thơ nghe như thật của trẻ thơ mà gây bão tố dây chuyền.

   “Bão tố nghi kị trong một đầu óc nam quyền độc đoán thiếu trí tuệ, bão tố bất hoà dữ dội phá tan hạnh phúc của một gia đình êm ấm, bão tố oan khiên phá nát cuộc đời của một con người trong trắng, phải kết thúc bi thảm trên dòng sông”.

(Theo Nguyễn Lộc và Đỗ Quang Lưu)

• Gỡ nút cũng bất ngờ bằng một câu nói của trẻ thơ non dại (khi chỉ cái bóng của chàng Trương trên vách: “Cha Đản lại đến kia kìa!"), bao nhiêu oan khiên gây thảm kịch trong phút chốc bỗng được sáng tỏ.

Bài 5 trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Tìm những yếu tố kì ảo trong truyện. Đưa những yếu tố kì ảo vào một câu chuyện quen thuộc, tác giả nhằm thể hiện điều gì?

Những yếu tố kì ảo: Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa, Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi tiệc yến và gặp Vũ Nương, người cùng làng đã chết, rồi được sứ giả của Linh Phi rẽ nước đưa về dương thế, hình ảnh Vũ Nương hiện ra sau khi Trường Sinh lập đàn tràng giải oan cho vợ ở bến Hoàng Giang lung linh, huyền ảo với "kiệu hoa ... cờ tán, võng lọng rực rỡ... lúc ẩn, lúc hiện", rồi bỗng chốc "bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất".

- Ý nghĩa của những yếu tố kì ảo:

+ Làm hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nương.

+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho tác phẩm, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng trong cuộc đời, người tốt dù có trải qua bao oan khuất, cuối cùng sẽ được minh oan, nhưng tính bi kịch của tác phẩm có vì thế mà bị giảm đi không? Tình tiết kì ảo ở cuối truyện: Vũ Nương trở lại dương thế, rực rỡ, uy nghi nhưng chỉ thấp thoáng ở giữa dòng sông, lúc ẩn, lúc hiện, với lời từ tạ ngậm ngùi: “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về dương  gian được nữa”, rồi “trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất".

+ Tất cả chỉ là ảo ảnh, là một chút an ủi cho người bạc phận, hạnh phúc thật sự đâu còn có thể làm lại được nữa. Và chàng Trương vẫn phải trả giá cho hành động “phũ phàng" của mình.

+ Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn ở chi tiết kì ảo này và khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với số phận bi thảm của người phụ nữ trong chế độ phong kiến.

// Trên đây là những hướng dẫn trả lời chi tiết các câu hỏi phần đọc - hiểu giúp các em tham khảo và nắm bắt các ý quan trọng để tự hoàn thành nội dung soạn bài chuyện người con gái Nam Xương của mình.

Bạn vẫn chưa thỏa mãn...? Đừng giận dỗi vội bỏ qua bài viết này nhé...

Để đặc sắc và hoàn hảo hơn các em có thể tham khảo thêm một số bài soạn ngắn gọn ở nội dung tiếp theo...

Cùng bắt đầu tiếp!

Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương ngắn nhất

Câu 1 trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1

- Đoạn 1 (từ đầu đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”): Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách.

- Đoạn 2 (“Qua năm sau… nhưng việc trót đã qua rồi”): Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương.

- Đoạn 3 (phần còn lại): Cuộc gặp gỡ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động Linh Phi. Vũ Nương được giải oan.

Câu 2 trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong các hoàn cảnh khác nhau.

- Cảnh 1: Trong cuộc sống vợ chồng, nàng “giữ gìn khuôn phép”.

- Cảnh 2: khi tiễn chồng đi lính. Trong lời dặn dò đầy tình nghĩa của Vũ Nương: nàng không trông mong vinh hiển mà chỉ cầu cho chồng được bình an trở về.

- Cảnh 3: khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ thủy chung, yêu chồng tha thiết. Nàng còn là người mẹ hiền, dâu thảo.

- Cảnh 4: khi bị chồng nghi oan.

+ Phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình.

+ Nói lên nỗi đau đớn, thất vọng

+ Hành động tự trẫm mình

Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục, lại đảm đang, tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một dạ thủy chung với chồng.

Câu 3 trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất vì :

- Nguyên nhân trực tiếp : Do Trương Sinh nghe lời nói ngây thơ của con trẻ, sinh nghi ngờ, ghen tuông.

- Nguyên nhân sâu xa :

+ Chế độ nam quyền, lễ giáo phong kiến.

+ Cuộc chiến tranh phi nghĩa gây chia ly.

→ Thân phận người phụ nữ bị xem nhẹ, khuất sau bóng người đàn ông.

Câu 4 trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Truyện dẫn dắt theo trình tự thời gian, các tình tiết được đan cài khéo léo, hé mở đầu truyện lại là nút thắt đẩy lên cao trào truyện (vì Trương Sinh thất học, tính hay ghen nên mới dễ dàng tin lời con trẻ và nghi oan vợ). Giọng văn trần thuật mang tính khách quan, cộng với lời văn đối thoại đầy tính bất ngờ đã khắc họa tâm lý, tính cách nhân vật thật sâu sắc, đưa truyện đến kịch tính.

Câu 5 trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1

- Những yếu tố kì ảo:

+ Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa.

+ Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi tiệc yến và gặp Vũ Nương, người cùng làng đã chết, rồi được sứ giả của Linh Phi rẽ nước đưa về dương thế;

+ Hình ảnh Vũ Nương hiện ra sau khi Trương Sinh lập đàn tràng giải nỗi oan cho nàng ở bến Hoàng Giang lung linh, huyền ảo, rồi bỗng chốc “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”.

- Ý nghĩa:

+ Làm hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nương.

+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho tác phẩm, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng trong cuộc đời.

OK chưa bạn! Nếu vẫn chưa ưng ý với 2 bài soạn chuyện người con gái Nam Xương trên thì chúng ta tiếp tục nhé ?!
* Bấm vào từng câu hỏi để có thể xem thêm nhiều cách trả lời khác

Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương cực ngắn

Câu 1 (Trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

- Phần 1: Từ đầu ... cha mẹ đẻ mình: Cuộc sống của Vũ Nương khi lấy Trương Sinh

- Phần 2: Qua năm sau ... trót đã qua rồi: Câu chuyện oan khuất của Vũ Nương

- Phần 3: Còn lại: Vũ Nương được giải oan

Câu 2 (Trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

Nhân vật Vũ Nương được miêu tả qua những hoàn cảnh

- Khi lấy Trương Sinh: nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến bất hòa → Người phụ nữ tư dung tốt đẹp

- Khi chồng đi lính: Hết lòng chăm lo cho mẹ

- Khi bị chồng vu oan: Quyết gieo mình xuống sông để tỏ tấm lòng đức hạnh của mình → Người phụ nữ gan dạ, chung thủy, coi trọng danh dự, phẩm hạnh

Câu 3 (Trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

- Nguyên nhân gián tiếp:

+ Chiến tranh phong kiến.

+ Xã hội phong kiến thối nát, bất công, trọng nam khinh nữ.

- Nguyên nhân trực tiếp:

+ Do tính đa nghi, gia trưởng độc đoán của Trương Sinh.

+ Do lời nói ngây thơ của bé Đản.

=> Thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến chứa đựng nhiều bi kịch, bị đối xử một cách bất công, bị chà đạp.

Câu 4 (Trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

Cách dẫn dắt tình huống truyện rất logic, tự nhiên, lôi cuốn hấp dẫn người đọc. Những đoạn đối thoại của nhân vật được đặt rất đúng chỗ. Đặc biệt trong những lời đối thoại có sử dụng những điển tích, điển cố làm tăng tính chất li kì của câu chuyện. Những nút thắt trong truyện để đẩy câu chuyện lên cao trào cũng hợp lí. Kết thúc truyện để lại nhiều dư âm cho người đọc

Câu 5 (Trang 51 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

- Những yếu tố kì ảo:

+ Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa.

+ Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi tiệc yến và gặp Vũ Nương, người cùng làng đã chết, rồi được sứ giả của Linh Phi rẽ nước đưa về dương thế.

+ Hình ảnh Vũ Nương hiện ra sau khi Trương Sinh lập đàn tràng giải nỗi oan cho nàng ở bến Hoàng Giang lung linh, huyền ảo, rồi bỗng chốc “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”.

- Ý nghĩa:

+ Làm hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nương.

+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho tác phẩm, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng trong cuộc đời.

+ Khẳng định rằng: chốn trần gian không phải là nơi dung thân cho người phụ nữ.

Thật lòng là tớ cũng hết văn rồi đấy! Nhưng với những bài soạn trên, chắc chắn bạn đã có thể hoàn thành bài soạn chuyện người con gái Nam Xương rồi đó.
- à quên, còn phần luyện tập nữa nhỉ... xem tiếp nhé!

Soạn bài người con gái Nam Xương luyện tập

Yêu cầu: Hãy kể lại Chuyện người con gái Nam Xương theo cách của em.

Dàn ý chi tiết:

1. Mở bài

- Giới thiệu tóm tắt về xuất xứ của Chuyện người con gái Nam Xương

+ Là chuyện thứ 16 trong 20 câu chuyện được Nguyễn Dữ ghi lại trong Truyền kì mạn lục.

+ Câu chuyện kể về nỗi oan khuất của một người phụ nữ đoan chính, thủy chung.

- Dẫn dắt vào câu chuyện

2. Thân bài

- Nêu vai trò, vị trí của bản thân trong câu chuyện (người thân, hàng xóm, người chứng kiến, người được nghe kể lại câu chuyện,…)

- Cách thức kể lại câu chuyện: theo logic trình tự thời gian, đảo kết cấu của truyện,….

- Kể lại câu chuyện (theo logic trật tự thời gian)

+ Truyện kể về nhân vật nào? ⇒ Truyện kể về người con gái tên là Vũ Thị Thiết lấy chồng tên là Trương Sinh.

+ Hoàn cảnh của Vũ Nương khi chồng vắng nhà?

  • Đang lúc mang thai đứa con đầu lòng, người chồng bị bắt ra chiến trường. Nàng ở nhà một tay săn sóc đứa con thơ và mẹ già.
  • Vì thương nhớ con trai, người mẹ chồng bị ốm nặng rồi qua đời. Một mình Vũ Nương lo ma chay tươm tất.
  • Một mình nuôi con và ngóng đợi ngày chồng trở về.

+ Tình huống mâu thuẫn giữa hai vợ chồng Vũ Nương?

  • Để vơi đi bớt nỗi nhớ thương chồng, vào những lúc đêm, Vũ Nương thường chỉ lên cái bóng của mình trên vách và bảo với bé Đản rằng “cha con đó”.
  • Nỗi đau oan khuất cũng bắt đầu từ cái bóng, khi Trương Sinh trở về và nghe tin mẹ mất chàng đã rất đau khổ. Và sẵn có máu ghen cùng sự gia trưởng, Trương Sinh sau khi nghe câu nói ngây thơ của bé Đản về người cha tối nào cũng đến, chàng đã đánh đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà.
  • Vì không thể giải bày, minh oan cho nỗi nhục này, nàng đã nhảy xuống dòng Hoàng Giang tự tử. Trước sự oan khuất đó của Vũ Nương, Linh Phi vợ của vua Nam Hải đã cảm động và cứu vớt đem về thủy cung.
  • Dưới động Rùa, Vũ Nương đã gặp được Phan Lang – người cùng làng với cô, hai người tâm sự và Vũ Nương đã đưa tín vật của hai vợ chồng và nhờ chuyển lời đến Trương Sinh là phải lập đàn giải oan cho nàng.
  • Về phần Trương Sinh sau khi hiểu được cái bóng chính là người cha mà bé Đản kể, chàng đã vô cùng ân hận. Khi nghe tin lập đàn giải oan, chàng liền làm ngay nhưng Vũ Nương chỉ thoắt ẩn thoắt hiện rồi biến mất về thủy cung.

3. Kết bài:

- Cảm nghĩ của em về câu chuyện.

+ Đây là một câu chuyện được kể từ thế kỉ XVI nhưng vẫn còn có giá trị răn dạy đến ngày nay.

+ Chứa đựng những yếu tố kì ảo nên kết truyện cũng mang những thông điệp riêng.

- Gợi ra những bài học cho bản thân và mọi người.

Bài kể mẫu

Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương xinh đẹp, nết na. Trương Sinh cùng làng, mến vì dung hạnh, xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Biết tính chồng đa nghi, nàng giữ gìn khuôn phép không để xảy ra bất hòa.

Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải tòng quân đi đánh giặc Chiêm. Trong buổi tiễn đưa, Vũ Nương rót chén rượu đầy đưa cho chồng và nói chỉ mong ngày chồng trở về mang theo hai chữ bình yên.

Chồng ra lính được một tuần thì Vũ Nương sinh được đứa con trai đặt tên là Đản. Nửa năm đã trôi qua, bà mẹ chồng già yếu, buồn lo rồi đau ốm. Nàng hết lòng săn sóc cơm cháo thuốc thang, ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn. Bệnh mỗi ngày một nặng, mẹ chồng qua đời, nàng vô cùng thương xót, mọi việc ma chay tế lễ, nàng lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.

Qua năm sau giặc tan, Trương Sinh được trở lại nhà, con vừa học nói. Chàng bế con đi thăm mồ mẹ, đứa trẻ không chịu và quấy khóc. Nghe Sinh dỗ dành, con ngây thơ nói: "Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói. chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít". Nghe Sinh gạn hỏi, đứa bé lại nói: "Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chảng bao giờ bế Đản cả". Vốn có tính ghen, nghe con nói, Trương Sinh đinh ninh là vợ hư. Chàng la um lên cho hả giận. Vợ khóc lóc phân trần, chàng càng mắng nhiếc đánh đuổi đi. Trước cảnh bình rơi trâm gãy, Vũ Nương tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang, ngửa mặt lên trời mà than, mong thần sông linh thiêng chứng giám. Nàng nguyền, nếu đoan trang, trinh bạch xin được làm ngọc Mị Nương, làm cỏ Ngu mĩ; nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con thì xin làm mồi cho tôm cá, làm cơm cho diều quạ...

Vũ Nương nhảy xuống sông tự tử. Chẳng bao lâu sau, một đêm vắng vẻ, ngồi dưới đèn khuya, bỗng đứa con chỉ chiếc bóng in lên vách mà nói rằng: "Cha  Đản lại đến kia kìa'". Lúc bấy giờ Trương Sinh mới thấu nỗi oan của vợ.

Lại nói chuyện Phan Lang người cùng làng, làm đầu mục ở bến đò Hoàng Giang. Một đêm chiêm hao thấy người con gái áo xanh đến kêu xin tha mạng. Sáng dậy, có người phường chài đem biếu một con rùa mai xanh, Phan chợt nghĩ đến chuyện mộng bèn đem thả con rùa ấy. Chẳng bao lâu sau, dưới thời Khai Đại nhà Hồ, giặc Minh sang cướp nước ta. Nhiều người sợ hãi chạy trốn, thuyền bè bị đắm, chết đuối đầy sông, trong đó có Phan Lang, xác dạt vào động rùa ở hải đảo. Linh Phi là vợ vua Nam Hải chợt nhìn thấy, bèn nói: "Đâv là vị ân nhân cứu sống ta thuở xưa". Linh Phi lấy khăn dấu mà lau, thuốc thần mà đổ, một chốc sau Phan Lang hồi sinh.

Linh Phi rước Phan Lang vào cung nước, mở tiệc lớn ở gác Triêu Dương để đãi ân nhân. Trong bữa tiệc có nhiều mĩ nhân, áo quần thướt tha, tóc búi xễ, trong đó có một người chỉ điểm qua son phấn rất giống Vũ Nương. Tiệc xong, người đàn bà ấy đến gặp Phan Lang. Vũ Nương nói lại tình cảnh mình được các nàng tiên trong cung nước thương tình mà cứu sống. Nghe Phan nhắc lại cố hương, mồ mả tiền nhân,... Vũ Nương khóc...

Hôm sau, Linh Phi lấy một cái túi bằng lụa tía, đựng 10 hạt minh châu, sai sứ Xích Hỗn đưa Phan ra khỏi nước. Vũ Nương cũng gửi Phan chiếc hoa vàng đưa về cho Trương Sinh và dặn lập đàn giải oan, đốt cây đèn thần trên bến Hoàng Giang thì nàng sẽ trở về.

Nhận được chiếc hoa vàng, Trương Sinh thốt lên: "Đây quả là vật dùng mà vợ tôi mang lúc ra đi...". Sinh làm đàn tràng, đốt cây đòn thần ba ngày đêm trên bến Hoàng Giang. Vũ Nương đã hiện về, ngồi trên một chiếc kiệu hoa, theo sau có 50 chiếc xe cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông."Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng trở về nhân gian được nữa...", tiếng Vũ Nương vọng vào, bóng nàng loang loáng mờ dần rồi biến mất.

* Nếu muốn có một bài kể khác, các bạn có thể tham khảo thêm những bài tóm tắt chuyện người con gái Nam Xương đã được Đọc Tài Liệu biên soạn nhé.

Video hướng dẫn soạn chuyện người con gái Nam Xương siêu ngắn

Kiến thức cơ bản

Tác giả Nguyễn Dữ

Có thể đoán định Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu thế kỉ XVI, là học trò giỏi của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. Xã hội phong kiến nhà Hậu Lê, đến thời kì này đã bắt đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng. Các tập đoàn phong kiến Lê Mao, Trịnh tranh giành quyền lực, gây loạn lạc liên miên. Chán nản trước thời cuộc, lại chịu ảnh hưởng của thầy, sau khi đỗ hương cống, Nguyễn Dữ chỉ làm quan có một năm rồi về sống ẩn dật ở núi rừng Thanh Hoá. Đó là cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết xưa.

Thể loại truyện truyền kì

truyện truyền kì là loại văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ Trung Quốc. Các nhà văn nước ta sau này dùng thể loại này để phản ánh cuộc sống và con người của đất nước mình, nổi tiếng nhất có Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm)... Truyện truyền kì thường mô phỏng những cốt truyện dân gian hoặc dã sử vốn đã được lưu truyền trong nhân dân. Bằng tài sáng tạo của mình, sắp xếp lại tình tiết, xen kẽ những yếu tố kì ảo. Dù có ma quỷ, thần tiên hay yêu tinh, thủy quái... nhưng vẫn là những chuyện có thực. Truyền kì mạn lục là đỉnh cao của thể loại này, được xem là một áng “thiên cổ kì bút”.

Đại ý của truyện

Câu chuyện về số phận oan nghiệt của một người phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh dưới chế độ phong kiến, chỉ vì một lời nói ngây thơ của con trẻ mà bị nghi ngờ, sỉ nhục, bị đẩy đến bước đường cùng, phải tự kết liễu cuộc đời mình để bày tỏ tấm lòng trong sạch. Tác phẩm cũng thể hiện mơ ước ngàn đời của nhân dân là người tốt bao giờ cũng được đền trả xứng đáng, dù chỉ là ở một thế giới huyền bí.

Giá trị nội dung

- Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

- Niềm cảm thương cho số phận bi kịch của họ đòng thời lên án tố cáo các lễ giáo phong kiến vô nhân đạo, các hủ tục hà khắc trong chế độ phong kiến đương thời.

Giá trị nghệ thuật

- Truyện viết bằng chữ Hán

- Kết hợp những yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo, hoang đường với cách kể chuyện , xây dựng nhân vật thành công.

** Những nội dung trên không chỉ giúp các bạn soạn bài tốt hơn mà đây còn là tài liệu để hoàn thành bài văn phân tích chuyện người con gái Nam Xương hay và đặc sắc.

Ghi nhớ

Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, Chuyện người con gái Nam Xương thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ. Tác phẩm là một áng văn hay, thành công về nghệ thuật dụng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình.

Tham khảo thêmCác đề văn về Chuyện người con gái Nam Xương

// Trên đây là những nội dung hướng dẫn soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương đã được biên soạn chi tiết. Nội dung này không chỉ giúp bạn tham khảo để soạn bài mà còn giúp bạn nắm vững các kiến thức quan trọng để hoàn thành tốt các đề văn hay câu hỏi liên quan đến tác phẩm này.

Thanh Long (Tổng hợp)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TẢI VỀ

X