Soạn bài Chí Phèo phần 1: Tác giả

Hướng dẫn soạn bài Chí Phèo phần 1: Tác giả, gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu về tác giả Nam Cao trang 142 SGK Ngữ Văn lớp 11 tập 1.

Bạn đang cần tìm tài liệu soạn bài Chí Phèo phần 1 ? Đọc Tài Liệu giới thiệu chi tiết bài soạn Chí Phèo (phần Tác giả) giúp các bạn trả lời tốt các câu hỏi đọc hiểu và nắm chắc kiến thức về tác giả Nam Cao.

Với những hướng dẫn chi tiết trả lời câu hỏi sách giáo khoa dưới đây các em không chỉ soạn bài tốt mà còn nắm vững các kiến thức quan trọng của tác phẩm này.

Trong nội dung soạn bài Chí Phèo phần 1, Đọc Tài Liệu sẽ tóm tắt lại những nội dung cơ bản về tác giả Nam Cao (tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp văn học, phong cách nghệ thuật). Thông qua việc trả lời các câu hỏi đọc hiểu cuối bài, các em sẽ hiểu được những nét chính về con người, về quan điểm nghệ thuật, các đề tài chính, tư tưởng chủ đạo và phong cách nghệ thuật của Nam Cao.

Cùng tham khảo...

Soạn bài Chí Phèo phần 1: Tác giả

Hướng dẫn soạn bài Chí Phèo phần 1: Tác giả chi tiết

   Gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu soạn bài Chí Phèo phần 1 chi tiết (tìm hiểu về tác giả Nam Cao) trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1.

Bài 1 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Tiểu sử và con người nhà văn Nam Cao có những đặc điểm gì giúp ta thêm hiểu về sự nghiệp văn học của ông?

Trả lời:

* Tóm tắt tiểu sử nhà văn Nam Cao:

Nam Cao, tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân (nay là xã Hoà Hậu, huyện Lí Nhân), tỉnh Hà Nam. Làng này xuất hiện nhiều trong những sáng tác của Nam Cao với cái tên Vũ Đại. Nam Cao sinh ra trong gia đình trung nông, đông con, theo đạo Thiên Chúa. Tuy không thuộc những gia đình nghèo nhất ở làng Đại Hoàng và ông thân sinh Nam Cao có thời kì làm chủ một cửa hàng gỗ ở Nam Định, nhưng gia đình Nam Cao vẫn luôn túng bấn. Trong số bảy anh em, chỉ Nam Cao là được ăn học tới nơi tới chốn. Gia đình này cũng được mô tả nhiều trong các sáng tác của Nam Cao mà rõ nét hơn cả là trong tiểu thuyết Sống mòn.

Học hết bậc Thành chung, năm 1935, Nam Cao theo người cậu vào Sài Gòn và có ý định ra nước ngoài học tập, nhưng không thành. Sau khoảng hơn ba năm, do đau ốm, ông phải về quê. Từ đó, Nam Cao phải sống vất vưởng, khi làm ông giáo trường tư, khi viết văn, làm gia sư, lúc thì phải về quê sống nhờ vợ.

Nam Cao gia nhập Hội Văn hoá cứu quốc năm 1943, khi hội này vừa được thành lập. Từ đó tới lúc hi sinh (1951), ông một lòng tận tụy phục vụ cách mạng và kháng chiến. Năm 1946, Nam Cao có mặt trong đoàn quân Nam tiến vào đến Nam Trung Bộ. Năm 1947, ông lên chiến khu Việt Bắc làm công tác văn nghệ và được kết nạp vào Đảng tại Bắc Kạn. Năm 1950, tham gia chiến dịch Biên Giới,... Nam Cao cùng Nguyễn Huy Tưởng đi công tác khu Ba, tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp vào vùng địch hậu. Ông có ý định thu thập thêm tài liệu để viết cuốn tiểu thuyết đang thai nghén. Nhưng Nam Cao và đoàn công tác bị địch phục kích. Nam Cao hi sinh trong chuyến đi đó.

* Con người Nam Cao

Nam Cao là con người có bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm phong phú. Ông luôn nghiêm khắc đấu tranh với mình để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ hẹp, vươn tới cuộc sống cao đẹp xứng đáng với danh hiệu con người. Nam Cao thường hổ thẹn với những gì mà ông cảm thấy tầm thường, thấp kém của mình.

Nam Cao là người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình thương, đặc biệt có sự gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nông dân nghèo khổ, bị áp bức, khinh miệt trong xã hội. Vì thế, không ít tác phẩm của Nam Cao viết về người lầm than là những thiên trữ tình đầy sự đồng cảm, xót thương. Ông hay suy nghĩ về nhiều vấn đề trong đời sống để rút ra những nhận xét có tầm triết lí sâu sắc và mới mẻ.

Tâm trạng bất hòa sâu sắc với xã hội đương thời -> xã hội tàn bạo, bất công, bóp nghẹt sự sống -> Nỗi phẫn uất của người tri thức có ý thức về sự sống mà không được sống.

Bài 2 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Những nội dung chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao.

Trả lời:

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao:

- Văn học phải gắn bó với đời sống của nhân dân lao động, phản ánh chân thực cuộc sống.

- Văn chương chân chính phải có nội dung nhân đạo sâu sắc, vừa mang nỗi đau nhân thế, vừa có thể tiếp sức mạnh cho con người vươn tới cuộc sống nhân ái, công bằng. Ông không chạy theo cái đẹp, cái thơ mộng, quay lưng lại với hiện thực rồi viết ra những lời giả dối, phù phiếm.

- Cuộc sống phải đặt trên văn chương, văn chương phải vì con người

- Nghề văn phải là một nghề sáng tạo.

Bài 3 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Viết về người trí thức nghèo và người nông dân khốn cùng, Nam Cao thường trăn trở, day dứt nhất về vấn đề gì?

Trả lời:

Những trăn trở, day dứt của Nam Cao khi viết về người trí thức nghèo và nông dân khốn cùng:

- Với người trí thức nghèo:

+ Họ là những nhà văn nghèo, những viên chức, những anh giáo khổ trường tư,… Họ có ý thức sâu sắc về giá trị sống và nhân phẩm, mang nhiều hoài bão cao đẹp, có tâm huyết và tài năng, luôn khát khao được phát triển nhân cách, được đóng góp cho xã hội.

+ Tuy nhiên, họ luôn bị gánh nặng cơm áo gạo tiền và hoàn cảnh xã hội o ép đến ngột ngạt, bất công làm cho “chết mòn”, thành “người thừa”. Nam Cao đã phê phán sâu sắc xã hội ngột ngạt, phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời thể hiện niềm khao khát một lẽ sống lớn, một cuộc sống có ích và có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.

- Với người nông dân:

+ Nam Cao đã vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội về nông thôn Việt Nam nghèo đói, xơ xác, thê thảm. Đối tượng được hướng tới là những con người thấp cổ bé họng, chịu số phận đắng cay, đoạ đày

=> Từ đó ông lên án xã hội tàn bạo đã huỷ hoại nhân cách con. Tuy nhiên, ông đi sâu vào miêu tả nội tâm để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện đó.

Bài 4 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Nêu những nét chính trong phong cách nghệ thuật Nam Cao

Trả lời:

Vài nét chính về phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

- Là cây bút hiện thực xuất sắc, Nam Cao thể hiện cái nhìn sâu sắc về cuộc đời con người, đặc biệt chú ý và hướng tới thế giới bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài. Với ông, bản tính nội tại của con người là quan trọng. Nó chi phối hết thảy suy nghĩ, hành động bên ngoài. Vì lẽ đó, thế giới nội tâm nhân vật luôn được ông chú trọng. Nhân vật của ông hiện lên thường với tư cách là nhân vật tâm trạng. Họ cố vượt thoát khỏi cảnh ngộ mà chính họ ý thức rất rõ sự khốn cùng và bế tắc.

- Yêu thương và trân trọng những giá trị cao quý trong nhân cách con người, tác phẩm của Nam Cao ánh lên những giá trị nhân đạo vô bờ. Ông là nhà văn của những trí thức, nông dân nghèo khổ, vốn là hai mảng đề tài thường trực trong tác phẩm Nam Cao.

- Có biệt tài trong việc diễn tả và phân tích tâm lí nhân vật.

- Là nhà văn hiện thực ông tôn trọng hiện thực khách quan, đứng về phía quần chúng nghèo khổ để nói lên tiếng nói chính đáng của họ.

- Viết về cái nhỏ nhặt hàng ngày nhưng vẫn làm nổi bật được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật.

- Giọng điệu buồn thương, chua chát, dửng dưng, lạnh lùng mà đầy thương cảm.

- Truyện của Nam Cao giàu chất triết lí, ngôn ngữ vừa trữ tình vừa sắc sảo, uyên bác mà lại sống động, tinh tế, uyển chuyển phù hợp với cuộc sống đời thường của quần chúng lao động.

=> Ngòi bút của ông lạnh lùng, tỉnh táo, nặng trĩu ưu tư và đằm thắm yêu thương. Nam Cao được đánh giá là nhà văn hàng đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

>> Tham khảo soạn bài Chí Phèo phần 2: Tác phẩm để hiểu rõ hơn phong cách nghệ thuật, biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật của Nam Cao.

Soạn bài Chí Phèo phần 1 ngắn nhất

Hướng dẫn soạn văn bài Chí Phèo phần 1 ngắn gọn nhất cho các bạn học sinh nắm được các kiến thức trọng tâm của phần tác giả trước khi tìm hiểu về tác phẩm.

Câu 1 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

* Tiểu sử Nam Cao

- Nam Cao (1915 – 1951) tên thật là Trần Hữu Tri, quê làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Xuất thân trong một gia đình nghèo khó, là người duy nhất trong gia đình được đi học.

- Học hết Thành chung, đi làm nhiều nơi: Sài Gòn, Hà Nội. Do đau ốm, ông phải về quê, sống vất vưởng, khi làm ông giáo trường tư, khi viết văn, làm gia sư, lúc thì phải về quê sống nhờ vợ.

- Năm 1943 tham gia Hội Văn hóa cứu quốc.

- Sau cách mạng tháng Tám, ông vừa viết văn vừa tham gia cách mạng.

- Năm 1946 tham gia đoàn quân Nam tiến, năm 1950 tham gia chiến dịch Biên Giới.

- Năm 1951 hi sinh trên đường đi công tác.

* Con người Nam Cao

- Là con người có bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm phong phú, tâm trạng bất hòa sâu sắc đối với xã hội đương thời.

- Có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình thương, gắn bó ân tình sâu nặng, thiết tha với người nông dân nơi đồng ruộng làng quê.

- Luôn nghiêm khắc tự đấu tranh với mình một cách trung thực để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ hẹp, cố khắc phục tâm lí, lối sống tiểu tư sản vươn tới cuộc sống cao đẹp.

- Ông quan niệm, không có tình thương đồng loại thì không đáng gọi là người

=> Tất cả những đặc điểm về hoàn cảnh cuộc đời và con người Nam Cao đã đưa ông đến với con đường nghệ thuật hiện thực “vị nhân sinh” và tạo nên những tác phẩm thấm đượm tư tưởng nhân đạo sâu sắc.

Câu 2 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao:

- Văn học phải gắn bó với đời sống của nhân dân lao động, phản ánh chân thực cuộc sống.

- Văn chương chân chính phải có nội dung nhân đạo sâu sắc, vừa mang nỗi đau nhân thế, vừa có thể tiếp sức mạnh cho con người vươn tới cuộc sống nhân ái, công bằng.

- Lao động nghệ thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu, người cầm bút phải có lương tâm.

- Cuộc sống phải đặt trên văn chương, văn chương phải vì con người

- Nghề văn phải là một nghề sáng tạo.

- Nhà văn phải có đôi mắt tình thương, tác phẩm văn chương hay, có giá trị chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc.

Câu 3 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Những trăn trở, day dứt của Nam Cao:

* Khi viết về người trí thức nghèo

- Các nhân vật ấy là những nhà văn nghèo, những viên chức, những anh giáo khổ trường tư,... có ý thức sâu sắc về giá trị sống và nhân phẩm, mang nhiều hoài bão cao đẹp, có tâm huyết và tài năng, luôn khát khao được phát triển nhân cách, được đóng góp cho xã hội, được khẳng định trước cuộc đời. Tuy nhiên, họ lại bị xã hội bất công và cuộc sống nghèo đói bóp nghẹt, tàn phá tâm hồn.

* Khi viết về người nông dân

- Nam Cao đã vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội về nông thôn Việt Nam nghèo đói, xơ xác, thê thảm. Đối tượng được hướng tới là những con người thấp cổ bé họng, chịu số phận đắng cay, đoạ đày. Từ đó ông lên án xã hội tàn bạo đã huỷ hoại nhân cách của những con người bản chất vốn hiền lành. Tuy nhiên, ông đi sâu vào miêu tả nội tâm để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện của họ ngay cả khi họ bị xã hội vùi dập, cướp mất cả nhân hình, nhân tính.

=> Các sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao tập trung vào cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản, cuộc sống của người nông dân, thể hiện nỗi day dứt, đau đớn của tác giả trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, hủy hoại nhân cách trong xã hội.

Câu 4 trang 142 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Đặc điểm cơ bản trong phong cách nghệ thuật của Nam Cao:

- Nam Cao đặc biệt quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, có hứng thú khám phá con người trong con người

- Có biệt tài và khuynh hướng tìm hiểu, đi sâu khai thác nội tâm nhân vật, phân tích, diễn tả tâm lý nhân vật.

- Cách tạo dựng đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm chân thật, sinh động

- Viết về cái nhỏ nhặt hàng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc và có giọng văn đặc sắc.

- Giọng văn: buồn thương, chua chát, đau xót nhưng đầy thương cảm, thương yêu thân phận con người yếu đuối trong xã hội.

Tìm hiểu chung về tác giả Nam Cao

I. Cuộc đời

- Nam Cao (1917-1951) tên thật Trần Hữu Trí, sinh tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam - nay là xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân, Hà Nam. Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh: Nam Cao.

- Học hết bậc Thành chung, ông vào Sài Gòn làm thư kí cho một hiệu may, bắt đầu viết truyện ngắn, sáng tác của Nam Cao thời kì đầu chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn.
- Trở ra Bắc, sau khi tự học lại để thi lấy bằng Thành chung, Nam Cao dạy học ở Trường tư thục Công Thành, trên đường Thụy Khuê. Khi phát xít Nhật vào Đông Dương, trường bị trưng dụng, Nam Cao thôi dạy học.

- Rời Hà Nội, Nam Cao về dạy học ở làng quê Đại Hoàng. Thời kì này, Nam Cao cho ra đời nhiều tác phẩm, tiêu biểu như Truyện người hàng xóm và hoàn thành Sống mòn. Năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và là một trong số những thành viên đầu tiên của tổ chức này.

- Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lí Nhân. Năm 1946, Nam Cao ra Hà Nội hoạt động trong Hội Văn hóa Cứu quốc. Tiếp đó, ông vào miền Nam với tư cách phóng viên.

- Năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc. Ông là thư kí tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc.

- Năm 1948 Nam Cao gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam và hi sinh trong chuyến công tác tại Ninh Bình vào năm 1951.

II. Sự nghiệp văn học

- Nam Cao bắt đầu sự nghiệp sách tác của mình vào năm 1936. Ông có sáng tác thơ nhưng không thành công.

- Ông chỉ viết một vở kịch: Đóng góp (1951)

- Ông nổi tiếng với những sáng tác văn xuôi, bao gồm: tiểu thuyết Chuyện người hàng xóm (1944), Sống mòn (1956); truyện ngắn: khoảng 50 truyện, trong đó những truyện tiêu biểu nhất là Chí Phèo, Đời thừa, Lão Hạc,...

- Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, có đóng góp quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa truyện ngắn và tiểu thuyết ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.

- Nam Cao là người có quan điểm nghệ thuật xuất sắc, tiến bộ, đạt được thành tựu xuất sắc về đề tài về người tri thức nghèo và người nông dân cùng khổ. Đặc biệt, ông quan tâm đến đời sống tinh thần của con người, luôn đau đớn trước tình trạng con người bị rơi vào thảm cảnh "sống mòn".

- Ông là nhà văn có phong cách độc đáo: luôn hướng tới thế giới nội tâm của con người; có biệt tài trong việc miêu tả và phân tích tâm lí, viết về những cái nhỏ nhặt hằng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc và có giọng văn đặc sắc.

Tổng kết

  • Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, có đóng góp quan trọng đối với quá trình hiện đại hoá truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Ông có quan điểm nghệ thuật sâu sắc, tiến bộ, đạt được thành tựu xuất sắc về đề tài người trí thức nghèo và người nông dân cùng khổ. Ông đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần của con người, luôn đau đớn trước tình trạng con người bị rơi vào thảm cảnh sống mòn, bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí bị huỷ hoại cá nhân tính.
  • Nam Cao là nhà văn có phong cách độc đáo: luôn hướng tới thế giới nội tâm của con người; có biệt tài trong việc miêu tả và phân tích tâm lí; viết về cái nhỏ nhặt hằng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, có tầm triết lí sâu sắc và có giọng văn đặc sắc.

// Trên đây là nội dung chi tiết bài soạn văn Chí Phèo phần 1 (Tác giả) do Đọc Tài Liệu biên soạn gửi tới các em. Mong rằng nội dung của bài hướng dẫn soạn văn 11 bài Chí Phèo phần 1 này sẽ giúp các em ôn tập và nắm vững các kiến thức quan trọng về tác giả Nam Cao. Chúc các em luôn đạt được những kết quả cao trong học tập.

[ĐỪNG SAO CHÉP] - Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Chí Phèo phần 1 một cách tốt nhất. "Trong cách học, phải lấy tự học làm cố" - Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Tâm Phương (Tổng hợp)

TẢI VỀ

Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi
Chưa

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM