Soạn bài Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều)

Soạn bài Cảnh ngày xuân của Đọc Tài Liệu giúp bạn ôn tập kiến thức và trả lời câu hỏi trang 87, 87 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Tài liệu hướng dẫn soạn bài Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều) được Đọc Tài Liệu biên soạn sẽ giúp các em nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học, qua 2 phần :

  • Gợi ý trả lời câu hỏi trang 86 và 87 sách giáo khoa
  • Kiến thức cần nắm

Chúng ta cùng đi vào phần soạn bài để hiểu chi tiết nội dung tác phẩm hơn....

Soạn bài Cảnh ngày xuân chi tiết

Hướng dẫn trả lời câu hỏi phần Đọc - Hiểu văn bản trang 86 và 87 sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập 1:

Đọc - Hiểu văn bản

1 - Trang 86 SGK

Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân.

- Những chi tiết nào gợi lên đặc điểm riêng của mùa xuân?

- Em có nhận xét gì về cách dùng từ ngữ và bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Du khi gợi tả mùa xuân?

Trả lời

- Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng:

+/ Gợi tả không gian và thời gian:

Ngày xuân con én đưa thoi,

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

+/ Hình ảnh thiên nhiên:

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

- Nguyễn Du tả cảnh mùa xuân thật ngắn gọn chỉ bằng bốn câu thơ với một vài nét đặc tả, cảnh vật được chọn lọc. Ngôn ngừ binh dị, hàm súc; có sự tương phản về màu sắc, tạo được vẻ hài hòa, giàu sức gợi tả về bức tranh xuân.  Nghệ thuật nhân hóa cùng với nghệ thuật đảo ngữ, đã diễn tả một cách sinh động sự tươi non, mơn mởn, giàu sức sống của cỏ cây hoa lá. Chúng vốn là những sự vật vô tri vô giác, nhưng trở nên có linh hồn, có sức sống…

Tham khảo thêm: Phân tích nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong Cảnh ngày xuân

2 - Trang 86 SGK

Tám câu thơ tiếp theo gợi lên khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh:

- Thống kê từ ghép là tính từ, danh từ, động từ. Những từ ấy gợi lên không khí và hoạt động của lễ hội như thế nào?

- Thông qua buổi du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả khắc họa một lễ hội truyền thống xa xưa. Em hãy đọc kĩ các chú thích, kết hợp với đoạn thơ để nên những cảm nhận về lễ hội truyền thống ấy.

Trả lời

Trong ngày Thanh minh, có hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: lễ tảo mộ - đi viếng mộ, quét tước, sửa sang phần mộ của người thân; hội đạp thanh - đi chơi xuân ở chốn đồng quê.

- Một loạt từ hai âm tiết (trong đó có cả từ ghép và từ láy) là tính từ, danh từ, động từ xuất hiện gần xa, yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, nô nức, sắm sửa, dập dìu, ... gợi lên không khí lễ hội thật rộn ràng. Các danh từ (yến anh, chị em, tài tử, giai nhân) gợi tả sự đông vui, nhiều người cùng đến hội; các động từ (sắm sửa, dập dìu) gợi tả sự rộn ràng náo nhiệt của ngày hội; các tính từ (gần xa, nô nức) làm rõ hơn tâm trạng của người đi hội. Cách nói ẩn dụ "nô nức yến anh”, gợi lên hình ảnh từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim én bay ríu rít. Trong lễ hội mùa xuân tấp nập, nhộn nhịp nhất là những nam thanh, nữ tú, những tài tử giai nhân.

- Qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả khắc hoạ một truyền thống văn hoá lễ hội dân tộc. Tiết Thanh minh mọi người sắm sửa lễ vật để đi tảo mộ, sắm sửa áo quần để vui hội đạp thanh. Người ta rắc những thỏi vàng vó, đốt tiền giấy mã để tưởng nhớ những người thân đã khuất.

cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều

Xem thêm: Cảm nhận về bức tranh mùa xuân trong Cảnh ngày xuân

3 - Trang 86 SGK

Sáu câu cuối gợi cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.

- Cảnh vật, không khí mùa xuân trong sáu câu cuối có gì khác với câu thơ đầu? Vì sao?

- Những từ ngữ: tà ta, thanh thanh, nao nao chỉ có tác dụng miêu tả sắc thái cảnh vật hay còn bộc lộ tâm trạng con người? Vì sao?

- Cảm nhận của em về khung cảnh thiên nhiên và tâm trạng con người trong sáu câu thơ cuối.

Trả lời

Cảnh vật, không khí lúc du xuân trở về có sự khác biệt lớn so với buổi sáng. Từ không khí nhộn nhịp nô nức của buổi sáng thì buổi chiều, mọi thứ thật nhẹ nhàng, chậm rãi: Mặt trời từ từ ngả về tây, cảnh chiều xuân đẹp một cách nhẹ nhàng, mọi vật đều thanh nhẹ, nắng chiều đã nhạt, người bước đi thơ thẩn khẽ khàng, cây cầu nhỏ bắc ngang khe nước… Cảnh vẫn đẹp, vẫn thanh nhưng đã nhuốm màu tâm trạng. Đó là tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến mà người ta vẫn thường có sau một cuộc vui.

Những từ láy “ tà tà”, “thanh thanh”, “ nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái của cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Những từ ấy, đặc biệt là từ “ nao nao” thoáng gợi lên một nét buồn khó hiểu, nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật.

Sáu câu thơ cuối gợi nhiều hơn tả. Trong không gian êm đềm, tĩnh lặng không còn nhộn nhịp, ríu rít tiếng nói, tiếng cười ấy là tâm trạng bâng khuâng, như có gì tiếc nuôi của chị em Thuý Kiều. Lòng người như hoà vào cảnh vật, lắng lại trong cảnh vật. Ngay sau đó, Kiều gặp mộ Đạm Tiên, rồi gặp chàng Kim Trọng “ Phong tư tài mạo tót vời – Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”, những sự kiện làm xáo trộn cuộc sống êm đềm, bình lặng của Kiều. Đoạn thơ tả cảnh mà dường như đang chứa đựng linh cảm về điều gì đó sắp xảy ra.

Có thể bạn quan tâm những bài văn cảm nhận về 6 câu thơ cuối đoạn trích Cảnh ngày xuân hay nhất

4 - Trang 87 SGK

Phân tích những thành công về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du trong đoạn trích Cảnh ngày xuân.

Trả lời

Thành công của đoạn trích là nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du. Tác giả đã sử dụng một hệ thống từ ghép.

Đoạn trích là ba bức tranh đặc sắc về cảnh ngày xuân:

- Bức tranh đầu là cảnh thiên nhiên đặc trưng của mùa xuân. Với vài nét chấm phá của thi nhân, mùa xuân hiện lên tươi đẹp, trong sáng.

- Bức tranh tiếp theo là khung cảnh lễ hội thanh minh nhộn nhịp, đông vui. Hình ảnh con người vui vẻ. Chen chúc đi dự hội đạp thanh. Bằng hàng loạt tính từ, động từ, danh từ, kết hợp với nhịp đội, tác giả đã tạo được không khí vui tươi của ngày hội: nô nức yến oanh, tài tử giai nhân, ngựa xe như nước áo quần như nêm.

- Bức tranh cuối cùng là cảnh ngày hội tan, chị em Thúy Kiều tha thẩn ra về. Tâm trạng bâng khuâng, nuối tiếc của hai chị em dường như hòa trong không gian êm đềm, lắng đọng của chiều tà ấy bằng các từ: thơ thẩn, bước dần, lần xem, nao nao...

Luyện tập

Phân tích, so sánh cảnh mua xuân trong câu thơ cổ Trung Quốc: "Phương thảo liên thiên bích - Lê chi sổ điểm hoa" (Cỏ thơm liên với trời xanh - Trên cành lê có mấy bông hoa) với cảnh mùa xuân trong câu thơ: "Cỏ non xanh tận chân trời - Cành lê trắng điểm một vài bông hoa" để thấy được sự tiếp thu và sáng tạo của Nguyễn Du

Bài mẫu

Nguyễn Du đã tiếp thu ý tưởng từ câu thơ câu thơ cổ Trung Quốc để miêu tả bức tranh thiên nhiên mùa xuân. Bức tranh mùa xuân ở hai câu thơ hiện lên với những nét vẽ tương đồng với nhau:

– Cỏ xanh trải dài tận chân trời, mở ra không gian bao la, ngút ngàn (cỏ thơm liền với trời xanh – cỏ non xanh tận chân trời).

– Cành lê với những bông hoa lê trắng điểm xuyết.

– Sự sáng tạo của Nguyễn Du so với cổ nhân thể hiện tập trung ở câu thơ thứ hai.

– Ở câu thơ cổ Trung Quốc chỉ đơn thuần là miêu tả lại trên cành lê nở mấy bông hoa.

Câu thơ “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” của Nguyễn Du đặc biệt nhấn mạnh vào bút pháp chấm phá điểm xuyết. Trọng tâm trong bức tranh của Nguyễn Du chính là những bông hoa lê trắng giữa nền xanh bao la của đất trời. Tác giả đã sử dụng phép đảo ngữ, đặt động từ “điểm” lên trước cụm danh từ “một vài bông hoa”.

Soạn bài cảnh ngày xuân ngắn nhất

Nội dung ở phần này là các kiến thức sơ lược để các bạn có thể tham khảo và tự hoàn thành bài soạn của mình:

Bài 1 (Trang 86 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

Những chi tiết gợi tả khung cảnh mùa xuân

- Con én đưa thoi

- Cỏ non xanh rờn

- Thiều quang sáng rực

- Cành lê đang ra hoa kết trái

Khung cảnh mùa xuân trong lành, khoáng đạt, nhẹ nhàng, thanh khiết, tràn đầy sức sống

Bút pháp ước lệ tượng trưng gợi không gian mùa xuân, tác giả còn dùng nhiều từ ngữ gợi hình ảnh, cái hồn cảnh vật

Bài 2 (trang 86 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh Minh gợi tả trong tám câu thơ:

- Phần lễ tảo mộ và du xuân

- Không khí rộn ràng của lễ hội mùa xuân:

+ Nô nức yến anh

+ Dập dìu tài tử giai nhân

+ Ngựa xe như nước, áo quần như nêm

- Các danh từ: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân. Từ ghép tính từ: gần xa, nô nức. Là động từ: sắm sửa, dập dìu

→ Hình ảnh gợi lên không khí náo nhiệt, tươi vui và không gian nhiều màu sắc, giàu sức sống của mùa xuân

Bài 3 (trang 86 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

- Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu nhỏ bắc ngang.

- Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn

- Dòng nước uốn quanh “nao nao” như báo trước ngay sau lúc này thôi Kiều sẽ gặp nấm mồ Đạm Tiên, sẽ gặp chàng thư sinh “phong tư tài mạo tót vời” Kim Trọng.

Bài 4 (trang 87 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

Đoạn trích có bố cục cân đối, hợp lí

- Mặc dù không thật rõ ràng, nhưng cũng có thể nói đến kết cấu ba phần (mở đầu, diễn biến, kết thúc

- Tác giả sử dụng nhiều từ ngữ giàu chất tạo hình như những từ láy gợi hình, tình tứ tả màu sắc, từ ghép…

+ Tác giả kết hợp tài tình bút pháp tả cụ thể, chi tiết và bút pháp gợi tả có tính chấm phá

→ Nguyễn Du cho thấy nghệ thuật miêu tả thiên nhiên tinh tế, tài hoa

Bài luyện tập (trang 87 SGK Ngữ văn 9 tập 1)

So sánh thơ cổ Trung Quốc và thơ Nguyễn Du qua hai câu thơ cả cảnh mùa xuân

- Câu thơ Nguyễn Du tiếp thu ý tưởng câu thơ cổ Trung Quốc khi miêu tả bức tranh thiên nhiên mùa xuân

  • Cỏ xanh trải dài tận chân trời, mở ra không gian bao la (Cỏ non xanh)
  • Cỏ thơm tới tận chân trời (Phương thảo – cỏ thơm)

- Sự sáng tạo đậm chất trong câu thứ hai:

  • Nguyễn Du nhấn mạnh vào việc điểm xuyết “một vài bông hoa” tạo ra sự chấm phá độc đáo trong bức tranh thiên nhiên
  • Cấu trúc đảo ngữ, nhấn mạnh hoạt động “điểm”

Soạn bài Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều)

Cùng tham khảo...

Kiến thức cơ bản

Sau khi giới thiệu gia cảnh họ Vương và tả tài sắc chị em Thúy Kiều, đoạn trích này tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh và cảnh chị em Kiều đi chơi xuân.

Bố cục bài Cảnh ngày xuân

- 4 câu đầu: Khung cảnh mùa xuân.

- 8 câu giữa: Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh.

- 6 câu cuối: Cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.

Kiến thức cơ bản bài Cảnh ngày xuân

1. Vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên ngày xuân

* Hai câu đầu: Khái quát về một ngày xuân tươi đẹp.

- Với bút pháp ước lệ cổ điển, hai câu đầu vừa nói về thời gian vừa nói về không gian:

“Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi"

- Không gian xuân tràn ngập ánh sáng. Đồng thời nhà thơ cũng ngỏ ý ngày xuân thấm thoát qua mau “con én đưa thoi”, chính mươi ngày xuân mà nay "đã ngoài sáu mươi".

* Hai câu sau mới thực là bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ

“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa"

- Bức họa tuyệt đẹp của mùa xuân được miêu tả qua tâm trạng con người với sự phối màu tuyệt vời.

- Bức tranh được vẽ theo phong cách hội họa Trung Quốc, chỉ đơn giản với cỏ xanh, hoa trắng mà đủ cảnh, đủ màu.

+ Nguyễn Du đã kế thừa và sáng tạo bức tranh mùa xuân trong hai câu thơ ấy. Câu thơ Trung Quốc thiên về mùi vị “phương thảo” (cỏ thơm) đã được Nguyễn Du sáng tạo thành “cỏ non xanh”, thiên về màu sắc và sức sống tươi non.

+ Chữ “trắng" được thêm vào và đảo lên trước thành "trắng điểm” càng gây ấn tượng mạnh. Chữ “điểm" gợi bàn tay người họa sĩ – thị sĩ vẽ nên thơ, nên họa, như bàn tay tạo hóa điểm tô cảnh xuân tươi, khiến cảnh vật trở nên sống động có hồn.

2. Tám câu thơ tiếp: Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh.

- Nguyễn Du xứng đáng là tài năng bậc thầy về cách sử dụng ngôn từ, khi tách hai từ "Lễ hội" ra làm đôi để gọi

+ “Lễ tảo mộ":Là đi viếng thăm và sửa sang phần mộ của người thân, tổ tiên, tìm về những bóng hình trong quá khứ theo quan niệm “uống nước nhớ nguồn”.

+ “Hội đạp thanh": là dẫm lên thảm cỏ xanh, đi chơi xuân ở chôn đồng quê, đó là cuộc sống hiện tại, có thể tìm đến những sợi tơ hồng của mai sau.

➨ “Lễ” và “Hội” trong tiết thanh minh là hai sinh hoạt văn hóa khác biệt, nhưng trong thơ Nguyễn Du có sự giao hòa độc đáo.

- Khung cảnh lễ hội được gợi lên qua hàng loạt từ hai âm tiết giàu sắc thái biểu cảm, đó là hệ thống các từ ghép và từ láy: Các danh từ (yến anh, chị em, tài tử, giai nhân); Các động từ (sắm sửa, dập dìu): Các tính từ (gần xa, nô nức).

+ Cách nói ẩn dụ (nô nức, yến anh), gợi hình ảnh từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân.

- Tác giả rất khéo léo trong việc đan xen giữa các từ thuần Việt và các từ Hán - Việt gợi không khí lễ hội thật rộn ràng, tấp nập. Niềm vui lễ hội bao trùm cả nhân gian.

➨ Lễ và hội trong tiết thanh minh là một sự giao hòa độc đáo. Chứng tỏ nhà thơ rất yêu quý, trân trọng vẻ đẹp và giá trị truyền thống văn hóa dân tộc.

3. Khung cảnh chị em Kiều du xuân trở về. 

- Cảnh vẫn mang cái thanh cái dịu của mùa xuân nhưng đã nhuốm màu tâm trạng. Mọi sự chuyển động đều nhẹ nhàng.

- Tác giả sử dụng một loạt các từ láy, không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người.

+ "Nao nao", thoáng gợi một nét buồn khó hiểu.

+ “Thơ thẩn”, có sức gợi lớn, chị em Thúy Kiều ra về trong sự bần thần, nuối tiếc, lặng buồn.

- Hành động “dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn không nói hết

➨ Cảm giác xao xuyến đã hé mở vẻ đẹp tâm hồn thiếu nữ nhạy cảm, sâu lắng, cảnh nhuộm màu tâm trạng.

Nghe bài giảng Cảnh ngày xuân

  • Cô giáo: Nguyễn Thị Mai Hạnh
  • Nguồn: Sưu tầm


Ghi nhớ

Đoạn thơ Cảnh ngày xuân là bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng được gợi lên qua từ ngữ, bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình của Nguyễn Du.

Ghi nhớ bài cảnh ngày xuân

// Mong rằng nội dung của bài hướng dẫn soạn văn 9 bài Cảnh ngày xuân này sẽ giúp các bạn ôn tập và nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học.

➜ Xem đầy đủ hướng dẫn soạn văn 9 bài 6

[ĐỪNG SAO CHÉP] - Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Cảnh ngày xuân một cách tốt nhất. "Trong cách học, phải lấy tự học làm cố" - Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Thanh Long (Tổng hợp)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

TẢI VỀ

X