Mục lục bài học
Văn Mẫu Lớp 12

Phân tích Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

Hướng dẫn phân tích Tuyên ngôn độc lập, lập dàn ý, sơ đồ tư duy kèm theo những bài văn hay tham khảo phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh).

     Phân tích Tuyên ngôn độc lập - Hướng dẫn cách làm, lập dàn ý chi tiết và một số bài văn tham khảo phân tích Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.

Hướng dẫn phân tích Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)

Đề bài: Em hãy phân tích bản Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh.

1. Phân tích đề

- Yêu cầu của đề bài: phân tích bản Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)

- Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : các câu, từ ngữ, hình ảnh, chi tiết tiêu biểu trong tác phẩm Tuyên ngôn độc lập.

- Phương pháp lập luận chính : phân tích.

2. Hệ thống luận điểm

- Luận điểm 1: Cơ sở pháp lí của Tuyên ngôn độc lập

- Luận điểm 2: Cơ sở thực tiễn của Tuyên ngôn độc lập

+ Tội ác của thực dân Pháp

+ Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta

- Luận điểm 3: Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc.

3. Lập dàn ý chi tiết

a) Mở bài

- Giới thiệu sơ lược về tác giả Hồ Chí Minh.

+ Hồ Chí Minh (1890 - 1969) là nhà cách mạng, vị lãnh tụ vĩ đại đồng thời là nhà văn hóa, hoạt động nghệ thuật lớn của dân tộc Việt Nam.

- Giới thiệu tác phẩm Tuyên ngôn độc lập

+ Bản Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình (nay là Quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945.

b) Thân bài

* Khái quát về bản Tuyên ngôn

- Hoàn cảnh ra đời: 

+ Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Phát xít Nhật, kẻ đang chiếm đóng nước ta đầu hàng đồng minh. Nhân dân ta giành được chính quyền trên cả nước

+ Ngày 26-8-1945, Hồ Chí Minh từ Việt Bắc về tới Hà Nội, tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Người soạn thảo Tuyên ngôn độc lập.

+ Ngày 2 -9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lầm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam mới.

- Giá trị nội dung:

+ Tuyên ngôn độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân, đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tự do của nước Việt Nam mới

+ Bản Tuyên ngôn vừa tố cáo mạnh mẽ tội ác của thực dân Pháp, ngăn chặn âm mưu tái chiếm nước ta của các thế lực thù địch và các phe nhóm có hội quốc tế, vừa bộc lộ tình cảm yêu nước, thương dân và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của tác giả.

* Cơ sở lí luận của Tuyên ngôn độc lập

- Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ:

+ Tuyên ngôn độc lập của Mĩ (1776) : “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

+ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791) : “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng và quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

-> Tiền đề lí luận (luận cứ) cho bản Tuyên ngôn độc lập.

- Ý nghĩa của việc trích dẫn:

+ Hồ Chí Minh tôn trọng và sử dụng hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ làm cơ sở lí luận, bởi đó là những lí lẽ đã được tất cả mọi người thừa nhận.

+ Nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông”: Sử dụng lời lẽ của người Pháp để nói về họ nhằm mở cuộc tranh luận ngầm với họ.

+ Đặt ngang hàng cuộc cách mạng và giá trị bản tuyên ngôn của nước ta với hai cường quốc, thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc.

+ Tạo tiền đề lập luận cho mệnh đề tiếp theo.

+ Từ quyền dân tộc trong hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ, Hồ Chí Minh mở rộng ra thành quyền dân tộc: “Suy rộng ra… quyền tự do”. Điều này cho thấy sự vận dụng khéo léo, sáng tạo và cách lập luận chặt chẽ của tác giả.

=> Bằng lập luận chặt chẽ, chứng cứ xác thực, Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền bình đẳng, tự do của mỗi dân tộc trong đó có dân tộc Việt Nam làm nguyên lí chung cho bản tuyên ngôn.

* Cơ sở thực tiễn của Tuyên ngôn độc lập

+) Tố cáo tội ác của giặc

  Bác đưa ra những dẫn chứng để phản biện lại từng luận điệu giả dối của chúng:

- Chúng rêu rao “khai hóa” Việt Nam -> Người vạch rõ bản chất “khai hóa” của chúng : thi hành những chính sách độc ác, dã man trên đất nước ta trên tất cả mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội.

- Chúng rêu rao “bảo hộ” Đông Dương -> Người vạch trần thực chất công cuộc “bảo hộ” nước ta của chúng : Pháp quỳ gối đầu hàng mở cửa nước ta rước Nhật, trong vòng 5 năm, hai lần bán nước ta cho Nhật.

- Chỉ rõ luận điệu xảo trá, vạch rõ tội ác của giặc: đầu hàng Nhật, khủng bố Việt Minh, giết tù chính trị của ta

+ Pháp cho rằng Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng là thuộc địa của chúng -> Bác khẳng định chúng ta giành lấy độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.

+ Pháp cho rằng mình thuộc phe Đồng minh -> Bác khẳng định Pháp đã phản bội lại Đồng minh.

+ Hồ Chí Minh vạch trần tội ác, sự giả dối, lố bịch và bản chất thực dân của Pháp với những dẫn chứng trên tất cả các phương diện.

+ Khẳng định dân tộc ta là dân tộc gan góc đã đứng về phe Đồng minh chống phát xít.

=> Điệp cấu trúc “chúng + hành động”: nhấn mạnh tội ác của Pháp.

+) Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta

- Nhân dân Việt Nam đã gan góc đứng về phe đồng minh, chống phát xít Nhật; nhân dân Việt Nam cướp chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.

- Kết quả: Ta cùng lúc phá tan 3 xiềng xích đang trói buộc dân tộc ta (Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị), thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

* Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc

   - Tuyên bố thoát li quan hệ với Pháp, xóa bỏ hiệp ước Pháp đã kí, xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp.

   - Kêu gọi nhân dân Việt Nam đoàn kết chống lại âm mưu của Pháp

   - Tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế: kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận độc lập tự do của Việt Nam...

   - Nêu cao tinh thần quyết tâm bảo vệ nền hòa bình, độc lập của toàn dân Việt Nam

=> Lời văn đanh thép, rõ ràng như một lời thề, lời khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân cả nước.

* Đặc sắc nghệ thuật

- Tiêu biểu cho áng văn chính luận đanh thép, cô đọng, súc tích

- Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục, kết cấu mạch lạc

- Ngôn ngữ vừa hùng hồn, đanh thép khi tố cáo tội ác kẻ thù vừa chan chứa tình cảm, ngôn ngữ châm biếm sắc sảo

- Hình ảnh giàu sức gợi cảm.

c) Kết bài

- Khẳng định lại giá trị của Tuyên ngôn Độc lập.

- Cảm nghĩ của bản thân về bản Tuyên ngôn.

» Xem thêm: Dàn ý phân tích Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

4. Sơ đồ tư duy phân tích Tuyên ngôn độc lập

Sơ đồ tư duy phân tích Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

5. Kiến thức mở rộng

- Đối tượng của bản tuyên ngôn:

+ Tuyên ngôn độc lập hướng tới không chỉ đồng bào trong cả nước.

+ Nhân dân trên thế giới, trước hết là nhân dân tiến bộ ở Pháp và Mỹ.

+ Đặc biệt là các lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế đang mang dã tâm một lần nữa nô dịch đất nước ta.

- Mục đích sáng tác của bản tuyên ngôn:

+ Khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam.

+ Bao hàm một cuộc tranh luận ngầm nhằm bác bỏ luận điệu xảo trá của kẻ thù trước dư luận thế giới.

- Hoàn cảnh lịch sử ra đời Tuyên ngôn độc lập:

+ Nền độc lập vừa mới giành được bị đe dọa bởi các thế lực phản động, bọn đế quốc thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta.

+ Tiến vào từ phía Bắc là quân đội Quốc dân Đảng Trung Quốc, đằng sau là đế quốc Mĩ; tiến vào từ phía Nam là quân đội Anh, đằng sau là lính viễn chinh Pháp.

+ Lúc này, thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là đất “bảo hộ” của người Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng nên Đồng Dương đương nhiên phải trở lại với người Pháp.

3 bài văn hay phân tích Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

Phân tích Tuyên ngôn độc lập mẫu số 1:

      Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 nước ta đã diễn ra một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng. Đó chính là đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam. Trong toàn bộ văn bản Tuyên ngôn độc lập mà chủ tịch Hồ Chí Minh viết không dài chỉ ngắn gọn súc tích, chưa tới một nghìn chữ, nhưng bố cục và lời lẽ đanh thép. Nó có sức sống vô cùng mãnh liệt.

       Trong phần đầu tiên, bản Tuyên ngôn độc lập nêu lên lý luận, chân lý bất hủ về nhân quyền và dân quyền của con người. Tác giả Hồ Chí Minh đã khôn khéo khi trích dẫn những lời lẽ trong hai bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp. Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ ra đời khi nước Mỹ đấu tranh giành độc lập thành công có tính chất tiên phong của những nước lớn có ảnh hưởng tới nhiều nước khác trên thế giới khiến cho ai cũng phải thừa nhận tính đúng đắn không thể chối cãi của chúng. Ta có thể hiểu được thâm ý sâu xa của chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc trích dẫn này: "Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể chối cãi được. Trong những quyền ấy có quyền sống, quyền sung sướng, và quyền tự do".

      Nhưng ngay sau câu nói này tác giả Hồ Chí Minh đã vạch trần bộ mặt của thực dân Pháp khi chúng lợi dụng cái mác khai hóa tiến vào nước ta để bóc lột dân ta biến chúng ta thành nô lệ. “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta". Bằng những lập luận đanh thép của mình, tác giả đã phơi bày một cách vô cùng rõ ràng bản chất bóc lột của thực dân Pháp khi vào nước ta, khác hẳn với bộ mặt nhân đạo mà chúng nói với quốc tế, về chính nghĩa những điều chúng làm với dân ta là đàn áp cướp bóc.

      Trong phần hai của bản Tuyên ngôn độc lập, tác giả đã vạch tội thực dân Pháp rằng chúng chính là nguyên nhân gây cho đất nước ta những đói khổ nghèo nàn, lạc hậu. Chúng cướp đi tự do của dân ta, tuyệt đối không cho ta chút tự do nào. Rồi chúng thi hành những đạo luật vô cùng dã man tàn ác với nước ta, ngăn cản việc thống nhất đất nước, ngăn cản các hoạt động yêu nước, đưa ra nhiều thuế má làm dân ta nghèo đói.

      Tác giả cũng kể rõ tội trạng của thực dân Pháp khi chúng đã nhiều lần bán nước ta cho Nhật. Chúng thường hô hào rằng chúng cùng quân đồng minh giải phóng nước ta nhưng thực chất chúng đã nhiều lần phản bội lại quân đồng minh. Việc Việt Nam giành được độc lập từ tay của Nhật là điều không thể chối cãi. Tác giả Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ ràng rằng tự do vừa giành được vô cùng quý giá. Bởi để giành được nó người dân của chúng ta đã phải hy sinh rất nhiều máu xương, tâm huyết, thế nhưng chúng ta vẫn còn nhiều kẻ thù, thù trong giặc ngoài đang âm mưu bóp chết sự sống mới hình thành của nước Việt Nam bé nhỏ non trẻ.

      Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng trịnh trọng tuyên bố “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập". Người cũng nói thêm rằng "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần, lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy". Những lời nói đanh thép hào hùng của Người thể hiện quyết tâm lớn của dân tộc sẽ mang tất cả những gì mình có để bảo vệ tự do của tổ quốc thân yêu. Những lời tuyên bố của chủ tịch Hồ Chí Minh như lời thề thiêng liêng sắt đá, vừa mang tính khích lệ cổ vũ người dân tiến lên vừa mang tính cảnh cáo răn đe kẻ thù.

      Bản Tuyên ngôn độc lập này thể hiện sự ra đời của một nhà nước mới trên trường quốc tế. Từ đây, nước Việt Nam chính thức có tên trên bản đồ thế giới sánh ngang cùng các cường quốc năm châu. Bằng những lời lẽ hùng hồn, đanh thép tác giả Hồ Chí Minh đã viết một bản Tuyên ngôn độc lập vô cùng sâu sắc mang ý nghĩa lịch sử to lớn, được lưu danh thiên cổ, ngàn đời sau vẫn còn ý nghĩa vô cùng to lớn.

Có thể tham khảo thêm: Giới thiệu đôi nét về Hồ Chí Minh

Phân tích Tuyên ngôn độc lập mẫu số 2:

     Vị lãnh tụ vĩ đại của nước Việt Nam ta không ai khác ngoài Bác Hồ. Người là danh nhân văn hóa thế giới khiến ai ai cũng phải nghiêng mình. Người đã để lại cho nền văn học nước nhà một kho tàng tác phẩm giá trị. Và Bản tuyên ngôn độc lập là một trong số đó.

     Tác phẩm được soạn thảo vào ngày 26 tháng 8 năm 1945 tại số nhà 48 Hàng Ngang. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, Bác đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản tuyên ngôn có kết cấu ba phần: cơ sở pháp lý – cơ sở thực tế – khẳng định.

     Bản tuyên ngôn mở đầu bằng cách trích dẫn những lời bất hủ của "Tuyên ngôn độc lập" của Mĩ và "Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền" của Pháp. Cả hai bản tuyên ngôn này đều đề cập đến quyền tự do, quyền sống, quyền bình đẳng của con người. Người trân trọng, đề cao những lời lẽ trong hai văn bản này. Người khẳng định: "Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được". Bởi đây là thành quả của những cuộc cách mạng tháng Tám tiến bộ và chân lí mang đầy tính nhân văn của nhân loại. Nhà văn đấu tranh cho quyền của con người. Từ hai bản tuyên ngôn Bác đã vận dụng sáng tạo. Từ quyền của con người, Bác nâng lên quyền của cả dân tộc. Tầm nhìn sâu rộng của Bác đã tạo nên một lời khẳng định đanh thép: "Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Việc trích dẫn hai văn bản này có tác dụng rất lớn. Nó như một cách "gậy ông đập lưng ông", đập tan mọi luận điệu xảo trá của kẻ thù, tố cáo tội ác của chúng. Đồng thời bằng cách này, Bác đã đặt tuyên ngôn của Việt Nam sánh vai với tuyên ngôn Pháp và Mỹ và khơi dậy mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Kết thúc phần mở đầu là câu khẳng định: "Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được".

       Cơ sở thực tế của bản tuyên ngôn không gì khác ngoài tội ác của bọn thực dân và lập trường chính nghĩa của ta. Để tố cáo bộ mặt thối nát của thực dân Pháp, Bác dùng một câu vừa khẳng định, phủ định. Bác đã lật ngược lại vấn đề: "Thế mà hơn 80 năm nay...". Bác đã vạch trần luận điệu xảo trá của thực dân Pháp, giáng đòn phủ đầu về phía chúng. Tội ác của bọn thực dân được vạch trần trên các khía cạnh: chính trị - văn hóa, kinh tế. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man, lập ra ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc, chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu; thi hành chính sách ngu dân; dùng rượu cồn thuốc phiện để làm cho nòi giống ta suy nhược. Thực dân Pháp nói đến An Nam để khai hóa, văn minh, tự do, bình đẳng, bác ái nhưng ngược lại. Tất cả những tội ác trên đã cho thấy sự bịp bợm, dối trá của bọn chúng. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đã đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn. Để thấy được tội ác chồng chất của bọn chúng, Người đã sử dụng phương pháp lặp cấu trúc cú pháp kết hợp liệt kê. Lời văn đanh thép của Người thể hiện rõ sự căm hờn khiến cho người đọc, người nghe dấy lên lòng căm thù ghê gớm. Đặc biệt là hình ảnh "tắm cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu". Hình ảnh này có sức gợi hình gợi cảm hết sức mạnh mẽ. Nhưng tội ác của chúng chưa phải là hết. Trong 5 năm chúng bán nước ta hai lần cho Nhật. Mùa thu năm 1940, Nhật vào Đông Dương, Pháp đã "quì gối đầu hàng". Từ đó nhân dân ta lại chịu hai tầng xiềng xích Pháp – Nhật khiến từ Quảng Trị tới Bắc Kỳ hơn hai triệu đồng bào ta chết đói. Chúng còn thẳng tay đàn áp, khủng bố Việt Minh ta. Tội ác của chúng đã khiến dân ta khốn khổ cùng cực.

      Ta có lập trường chính nghĩa của ta. Đồng bào ta vẫn giữ một thái độ nhân đạo và khoan hồng. Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh thì nhân dân ta cả nước nổi dậy giành chính quyền. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị, dân ta đã đánh đổ mấy tầng xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Với giọng điệu nhanh dồn dập, sử dụng nhiều từ khẳng định: "sự thật là…", Người đã thành công trong việc khẳng định ta chính nghĩa, Pháp phi nghĩa, ta có độc lập tự do là tất yếu.

      Phần cuối của bản tuyên ngôn là lời tuyên bố. Lời tuyên bố này là với Pháp, với Đồng minh, với nhân dân Việt Nam và thế giới. Đồng thời khẳng định ý chí quyết tâm giữ vững độc lập tự do của nhân dân ta: "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy."

       Cũng giống như Bình ngô đại cáoNam quốc sơn hà, bản Tuyên ngôn độc lập là áng thiên cổ hùng văn của dân tộc ta.

Phân tích Tuyên ngôn độc lập mẫu số 3:

     “Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện lịch sử có giá trị to lớn do chủ tịch Hồ Chí Minh viết. Tác phẩm là văn kiện tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến nước ta đồng thời mở ra kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của độc lập tự do.

     “Tuyên ngôn độc lập” ra đời trong hoàn cảnh lịch sử vô cùng đặc biệt. Khi chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới thành lập đã phải đối mặt với nhiều thử thách, thế lực phản động cấu kết nhằm tước đoạt thành quả mà chúng ta đã đạt được. Mặc dù vậy, tuyên ngôn vẫn được ra đời và có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc ta.

      Trong bản Tuyên ngôn độc lập, ở phần cơ sở pháp lý Bác Hồ trích nguyên văn một đoạn tuyên ngôn của nước Mỹ. Bác dùng nó như một nền tảng pháp lý, một nguyên lý cơ bản quan trọng nhất làm tiền đề cho toàn bộ tư tưởng tác phẩm để nâng cao phát triển thành luận điểm: từ quyền bình đẳng của con người Người phát triển thành quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới. Đó là sự sáng tạo đầy bản lĩnh, trí tuệ và khôn khéo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sản phẩm của tư duy lí luận sắc bén, sáng tạo và là một đóng góp một cống hiến lớn của Người. Nó không chỉ có ý nghĩa thiết thực với cách mạng Việt Nam mà còn có ý nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Bên cạnh đó, Người còn trích dẫn tuyên ngôn của Pháp, hội tụ đầy đủ tinh thần sơ lược đầy ý nghĩa của tuyên ngôn Pháp, đề cao quyền tự do bình đẳng của con người - quyền cơ bản chính đáng, lẽ phải không ai chối cãi được và được thừa nhận như một chân lý. Sử dụng hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của nhân loại và của hai cường quốc lớn trên thế giới đang có âm mưu thôn tính nước ta một mặt Bác muốn tăng sức thuyết phục của bản tuyên ngôn độc lập nước nhà. Mặt khác, thể hiện sự khéo léo, trí tuệ của người viết. Bác vừa đề cao truyền thống bình đẳng, tự do, nhân đạo, tinh thần tự do tiến bộ của nhân dân hai nước Mỹ và Pháp lại vừa có tác dụng ngăn chặn âm mưu xâm lược của chúng. Đó là nghệ thuật "gậy ông đập lưng ông”. Người cũng sử dụng những lý luận sắc bén nhất, lời văn ngắn gọn, súc tích giọng văn sang sảng mà hùng hồn. Đó là tiếng nói khẳng định đầu tiên cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc.

      Ở phần bản cáo trạng Bác đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể trên mọi phương diện. Từ chính trị, kinh tế cho đến quân sự, văn hóa đều được Bác liệt kê đầy đủ những thủ đoạn áp bức bóc lột mà nhân dân ta phải hứng chịu. Đây được coi như một bản tố cáo tội ác chi tiết của thực dân Pháp. Sự tàn nhẫn, độc ác và nhẫn tâm của thực dân Pháp được Bác nhắc lại đầy đủ và rõ ràng đã tái hiện lại hình ảnh đất nước Việt Nam của chúng ta trong quá khứ. Tiếp đến Bác kể đến quá trình giành độc lập tự do của nhân dân ta. Bác kể lại những việc làm vừa anh hùng vừa nhân đạo của nhân dân ta. Đó là những cuộc chiến tranh chính nghĩa anh dũng kiên cường của cả dân tộc. Bác nhân danh dân tộc khẳng định quyết tâm đập tan âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Sự quyết tâm được thể hiện như một lời thề khắc cốt ghi tâm, lời thề của non sông cất lên dõng dạc, dứt khoát.

      Phần cuối cùng của bản tuyên ngôn cũng là phần được coi là đúc kết lại toàn bộ: tuyên bố độc lập khẳng định quyết tâm giữ vững độc lập. Một lần nữa Bác khẳng định độc lập tự do là quyền tất yếu của dân tộc Việt Nam, đó như là một sự thật lịch sử mà không ai có thể chối cãi được. Những câu văn ngắn gọn, súc tích nhưng thể hiện được niềm tự hào tự tôn dân tộc của người viết. Và bản Tuyên ngôn độc lập cũng mang một ý nghĩa vô cùng trọng đại. Hồ Chí Minh đồng thời giải quyết được hai việc đó là độc lập cho dân tộc và dân chủ cho nhân dân.

      Có thể nói rằng, ”Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận vừa ngắn gọn, lập luận sắc bén, dẫn chứng xác thực kết tinh tài năng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để rồi, Tuyên ngôn độc lập được coi là “áng thiên cổ hùng văn”.

      Trên đây một số bài văn mẫu hay phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh, các bạn có thể tham khảo thêm nội dung soạn bài Tuyên ngôn độc lập hoặc các tài liệu Văn mẫu 12 khác tại doctailieu.com để củng cố kiến thức và cách làm văn.

Chúc các bạn học tốt !

doctailieu.com
Back to top
Fanpage Đọc tài liệu