Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

Xuất bản ngày 22/04/2019 - Tác giả: Giangdh

Văn mẫu 11 phân tích bài thơ Tương tư của nhà thơ Nguyễn Bính, top 3 bài văn mẫu 11 tuyển chọn phân tích bài thơ Tương tư ..

    Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính để hiểu được tình trong bài thơ không chỉ là tình yêu mà còn là tình quê đậm đà, một nỗi nhớ trải dài xuyên suốt bao thời đại, mang cả hơi thở của dân tộc. Cùng Đọc tài liệu đi sâu hơn vào phân tích bài thơ với những hướng dẫn chi tiết và bài văn mẫu tham khảo dưới đây nhé.

Trước hết, các em có thể xem lại nội dung soạn bài Tương tư của Nguyễn Bính để củng cố lại những kiến thức quan trọng cần thiết về bài thơ, từ đó có thể triển khai ý viết bài được tốt hơn.

I. Hướng dẫn phân tích bài thơ Tương tư (Nguyễn Bính)

Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

1. Phân tích yêu cầu đề bài

- Yêu cầu về nội dung: phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tương tư

- Phạm vi tư liệu dẫn chứng: các câu thơ, chi tiết, hình ảnh,... có trong bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

- Phương pháp lập luận chính: phân tích.

2. Luận điểm bài thơ Tương tư

- Luận điểm 1: Nỗi tương tư của nhà thơ

+ Khái quát nỗi lòng nhớ mong, tương tư

+ Lời trách móc, bộc bạch của chàng trai

- Luận điểm 2: Tâm trạng của người tương tư

- Luận điểm 3: Khao khát hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn

3. Kiến thức cần củng cố trước khi làm bài

a) Kiến thức cơ bản về tác giả Nguyễn Bính

- Nguyễn Bính (1918 - 1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, quê Vụ Bản, Nam Định, là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam.

- Nhà ông có 3 anh em, cha ông làm nghề dạy học, mẹ ông là con gái một gia đình khá giả.

- Năm 1918, mẹ ông mất sớm vì bị rắn độc cắn khi mới sinh ông được 3 tháng

- Vài năm sau, cha ông lấy vợ kế sinh được 4 người con. Ba anh em Nguyễn Bính được bà cả Giần đem về nuôi cho ăn học

- Nguyễn Bính có tài làm thơ từ nhỏ, lớn lên được anh trai Trúc Đường dạy cho Văn học Pháp và từ đó bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ văn.

- 1945 - 1954: tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ.

- 1954 tập kết ra Bắc, tham gia công tác văn nghệ và làm báo.

- Tác phẩm chính: Qua nhà (Yêu đương 1936), Những bóng người trên sân ga (Thơ 1937), Cô hái mơ (Thơ 1939), Tương tư, Chân quê (Thơ 1940), Lỡ bước sang ngang (Thơ 1940), Tâm hồn tôi (Thơ 1940), Hương cố nhân (Thơ 1941), Hồn trinh nữ (Thơ 1958), Một nghìn cửa sổ (Thơ 1941), Sao chẳng về đây (Thơ 1941),...

b) Kiến thức chung về bài thơ Tương tư

- Hoàn cảnh sáng tác: Rút ra từ tập Lỡ bước sang ngang (1940), được tác giả viết tại làng Hoàng Mai (quận Hoàng Mai, Hà Nội) năm 1939.

- Ý nghĩa nhan đề: Tương tư là nỗi nhớ nhau của tình yêu đôi lứa, là hiện thân của tình yêu (một tâm hồn đang nhớ và một trái tim đang yêu). Tương tư là khao khát, là nỗ lực vượt không gian và chiến thắng thời gian để được gần kề.

- Giá trị nội dung: Bài thơ là tiếng lòng về một tình yêu trong sáng, đơn phương, mạnh mẽ, thể hiện tình cảm chân thành, thấm đượm hồn quê Việt với nhiều nét đẹp văn hóa dân gian (Đọc thêm bài Cảm nhận vẻ đẹp dân gian trong bài Tương tư).

- Đặc sắc nghệ thuật: Thể thơ lục bát; ngôn ngữ dung dị, hồn nhiên, dân dã; hệ thống ẩn dụ, hoán dụ đặc sắc và sáng tạo; hình ảnh sóng đôi; sử dụng thi liệu dân gian...

- Bố cục:

+ Phần 1 (16 câu đầu): Nỗi tương tư của chàng trai.

+ Phần 2 (4 câu còn lại): Ước vọng lứa đôi hòa hợp.

II. Dàn ý phân tích bài thơ Tương tư

1. Mở bài phân tích Tương tư

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Bính

- Giới thiệu bài thơ Tương tư: khái quát nội dung, hoàn cảnh sáng tác

Ví dụ: Nếu Anh Thơ là nữ sĩ của cảnh quê, Đoàn Văn Cừ là thi sĩ của nếp quê, Bàng Bá Lân là thi sĩ của đời quê thì Nguyễn Bính chính là thi sĩ của hồn quê. Hồn quê ấy hòa quyện từ nội dung đến hình thức, từ giọng điệu đến lối nói, lời nói khiến thơ Nguyễn Bính vừa là tiếng nói của thời đại mới, lại vừa như của ngàn xưa. Bài thơ "Tương tư" chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Bính.

2. Thân bài phân tích bài thơ Tương tư

a) Luận điểm 1: Nỗi tương tư của nhà thơ (4 câu thơ đầu)

- Nỗi nhớ mong

+ Hình ảnh hoán dụ “thôn Đoài, thôn Đông” mở đầu bài thơ -> Đôi trai gái, hình ảnh mang dáng dấp đồng quê mộc mạc, giản dị. Chủ thể trữ tình là chàng trai thôn Đoài đa tình.

+ “Một người chín nhớ mười thương một người” -> Điệp ngữ “một người” đứng ở hai đầu câu thơ, diễn tả sự xa cách, nhớ mong

+ Thành ngữ “chín nhớ mười mong” -> Sự mong nhớ da diết, bệnh nhớ thương của một người dành cho một người

+ Tâm trạng của người tình đơn phương cũng được mở ra với trời đất:

“Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

-> Sự liên tưởng độc đáo, bất ngờ.

=> Tác giả sử dụng những hiện tượng vốn có của thiên nhiên để nói lên quy luật tất yếu của tình yêu: tương tư là lẽ dĩ nhiên, điều tất yếu của tình yêu.

    b) Luận điểm 2: Tâm trạng của người tương tư

    - Những trạng thái của tương tư

    + Băn khoăn hờn dỗi

    • Câu hỏi tu từ với cặp từ song đôi “hai thôn - một làng”, “bên ấy - bên này” -> không gian xích lại gần nhau.
    • Cùng một không gian: Khi kể nỗi lòng mình: dài ra, vô tận; khi trách móc: thu hẹp khoảng cách đến kệt cùng “Hai thôn chung lại một đàng” -> Điều vô lý dễ thương của kẻ tương tư.
    • Trái với quy luật thông thường “bên ấy chẳng qua bên này” -> cái tôi nhút nhát, chân quê.

    => Không gian không xa mà tình ý lại xa.

    + Than thở

    • Lối điệp từ láy chữ "ngày qua ngày lại..." phô diễn trạng thái "sầu đong càng lắc càng đầy" trong lòng người đang yêu.
    • Nhịp thơ 2/2/2 chuyển thành 3/3, ý và lời vế sau lặp lại vế trước (lặp vế câu) khiến chữ “lại” tạo thành điểm nhấn.
    • Chữ “ngày” lặp lại 3 lần, nhấn mạnh đơn vị thời gian: chủ thể đang đếm từng ngày. -> dòng thời gian trôi qua chậm chạp, chán ngán, vô vọng -> lời than thở kể lể ngán ngẩm.
    • Nỗi nhớ vàng vọt cả lá xanh -> Quy luật tình cảm: Thời gian càng chậm, tâm trạng càng nặng nề, tâm trạng càng mòn mỏi, trông ngóng, thời gian càng lê thê.
    • Chữ “nhuộm” thể hiện sự chậm chạp của thời gian, đến mức đủ để màu lá chuyển hẳn sang màu khác.
    • Động từ ngoại động + để ngỏ chủ thể: tương tư khiến lòng người héo hon, nhuộm cây héo úa, giữa cây và người có mối tương giao kì lạ -> Cây vừa là nhân chứng của mối tương tư, vừa là đồng minh của kẻ tương tư, cũng là nạn nhân của nỗi tương tư.

    => Cách diễn tả thời gian và tâm trạng thật tinh tế và ý nhị: sự tương tư đến úa vàng cả lá xanh, vàng vọt cả tuổi xanh.

    + Hờn trách:

    • Lời trách móc như quy kết, làm cho đối tượng khó chạy tội “Bảo rằng… xa xôi
    • Phủ định tất cả: không xa, không cách trở, vậy mà người ấy không sang -> lời buộc tội thật dễ thương.
    • Điệp từ phiếm chỉ “ai” tạo âm hưởng trùng điệp, não lòng: trạng thái quen thuộc của tương tư: suy tư, sầu muộn đến không ngủ được -> vừa trách nhớ, vừa ngẩn ngơ chờ đợi.
    • Trách vì yêu: Do quá mong nhớ, tưởng mình bị hờ hững sinh ra hờn ngược trách xuôi -> một kiểu bày tỏ tình cảm.

    + Nôn nao mơ tưởng

    • Câu hỏi tu từ “bao giờ…” -> sự nôn nao, mong muốn được gặp gỡ.
    • Hình ảnh quen thuộc “bến - đò”, “hoa khuê các - bướm giang hồ”: những hình ảnh vốn ở trạng thái gần gũi, gắn bó -> Sự gặp gỡ đó chính là niềm mơ ước của tình yêu đôi lứa.

    - Sự phức tạp tâm lí mang quy luật của tình yêu:

    + Vô lí mà hữu tình: Tạo ra một tình huống để giãi bày nỗi niềm, tâm trạng tương tư.

    + Có mà không có: Câu hỏi tu từ "Cớ sao…? Có xa xôi mấy mà…? Biết cho ai…? Bao giờ…?"

    => Trách móc nhẹ nhàng, dễ thương, trách yêu, lời độc thoại nội tâm vang lên vì thương nhớ.

    c) Luận điểm 3: Khao khát hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn

    - “Có một”, “nhà anh”, “nhà em”: sự lẻ loi đơn chiếc, anh và em vẫn chưa hòa làm một -> Vẫn luôn ước mong hạnh phúc

    - Logic câu thơ khiến người đọc không thể nghĩ khác được “Thôn Đoài… thôn nào” -> kín đáo mà duyên dáng, tinh tế.

    - Bài thơ xuất hiện nhiều cặp đôi tương ứng, nhưng kết thúc là cặp đôi “trầu - cau” -> khao khát về một nhân duyên lâu bền và chất truyền thống, dân quê của Nguyễn Bính

    => Sâu thẳm trong nỗi sầu tương tư của anh trai quê kia là niềm khao khát được gần kề, được chung tình, được đi đến hôn nhân.

    3. Kết bài phân tích Tương tư

    - Nêu cảm nhận của em về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bình

    Ví dụ: Qua bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính ta có thể nhận ra tình cảm chân thành và sâu sắc của chàng trai dành cho cô gái. Đồng thời ta cũng thấy được phong cách thơ của Nguyễn Bính được thể hiện rất rõ ràng.

    Trên đây là Hướng dẫn lập dàn ý đề bài Phân tích bài thơ tương tư - Nguyễn Bính chi tiết và ngắn gọn nhất dành cho các bạn tham khảo để làm bài phân tích tốt hơn. Chúc các bạn thành công.

    III. Top 3 bài văn hay tuyển chọn phân tích Tương tư của Nguyễn Bính

    Sau đây là tổng hợp những bài văn phân tích Tương tư hay do Đọc Tài Liệu sưu tầm giới thiệu tới các em tham khảo, hi vọng sẽ là nguồn tư liệu hữu ích trong quá trình các em làm bài.

    1. Phân tích bài thơ Tương Tư bài số 1

    Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã từng nhận xét Nguyễn Bính rằng: "Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường". Đúng vậy, con người ấy sống trong từng câu thơ, từng nỗi nhớ da diết. Nỗi nhớ ấy thể hiện rõ nhất trong bài thơ Tương tư trích từ tập Lỡ bước sang ngang - một tập thơ tiêu biểu của ông trước cách mạng.

    Ai trong chúng ta đã một lần "tương tư" sầu nhớ chắc hẳn sẽ thấu hiểu cảm xúc ấy. Tương tư là thương, là nhớ, là bồi hồi khi nghĩ về hình bóng yêu thương. Nó là phức hợp cảm xúc, dậy lên như từng đợt sóng trong lòng:

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

    Một người chín nhớ mười thương một người

    Nắng mưa là bệnh của giời

    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

    Mở đầu khổ thơ là nỗi nhớ nhưng là nỗi nhớ gián tiếp qua không gian. Đó là "thôn Đoài" nhớ "thôn Đông", nỗi tương tư giăng mắc khắp không gian bởi lối hoán dụ quen thuộc trong ca dao xưa. Kín đáo mà không kém phần tâm tình tha thiết và sâu sắc hơn nữa tác giả lấy chuyện nắng chuyện mưa, mượn "căn bệnh" vốn dĩ của giời để trải lòng mình. Tác giả coi "tương tư" là một căn bệnh đã tiềm ẩn trong chính con người mình, cũng rất đỗi bình thường như bao chuyện khác, giống như quy luật của thiên nhiên tạo hóa vậy. Bốn câu thơ ấy mở ra nỗi nhớ khiến người đọc thích thú tò mò về mối tương tư của anh chàng thôn Đoài và cô nàng thôn Đông ngày ấy.

    Đến những câu thơ tiếp theo, ta như nghe thấy lời trách móc nhẹ nhàng và rất kín đáo thôi. Trách cô gái hững hờ, trách cô gái kia sao lại vờ như không biết gì về nỗi lòng ta:

    Hai thôn chung lại một làng

    Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này

    Ngày qua ngày lại qua ngày

    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

    Bảo rằng cách trở đò giang

    Không sang lại chẳng đường sang đã đành

    Nhưng đây cách một đầu đình

    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi

    Tương tư thức mấy đêm rồi

    Biết cho ai, hỏi ai người biết cho ?

    Bao giờ bến mới gặp đò?

    Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

    Nhịp thơ nhanh, câu hỏi dồn dập của nhân vật trữ tình hỏi người thương của mình. Vì sao nàng chẳng sang? Hai thôn ấy chung một làng mà sao nghe cách xa đến vậy, nếu mà nhớ người ta thì phải tìm đường mà sang thăm người ta chứ đằng này lại còn trách người ta không sang với mình. Cũng không biết được rằng có phải cô gái không sang không hay là tại vì nỗi tương tư kia khiến cho người tương tư thấy thời gian quá dài, và không gian thật gần mà trở nên xa xôi quá.

    Một khi con người ta tương tư, cũng hay nghĩ rằng nửa kia không quan tâm, vô tâm vô tình lắm. Rồi cứ thế "ngày qua ngày lại qua ngày" điệp từ "ngày" lặp lại hai lần trong một câu thơ kết hợp với hai từ "qua, lại" khiến ta cảm thấy thời gian chờ đợi đang dần trôi đi thật chậm và thật đều, dài tựa ba thu. Thời gian làm cảnh vật trở nên thiếu sức sống, lá xanh cũng đã bị thời gian nhuộm vàng mà người thương vẫn không sang thăm.

    Câu hỏi cất lên vừa thương nhớ vừa có một chút trách móc nửa kia của mình nhưng nó vang lên mãi không tìm thấy lời đáp. Hình ảnh bến đò trong những câu thơ tình lại hiện lên trong tương tư của Nguyễn Bính, đó là ước muốn được ở bên nhau, gắn bó khăng khít. Càng về cuối, những câu thơ vang lên như một ước nguyện với một tình yêu viên mãn vững bền và hạnh phúc:

    Nhà em có một giàn giầu 

    Nhà anh có một hàng cau liên phòng 

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông 

    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

    Hình ảnh trầu cau thể hiện ước nguyện được ở bên nhau của nhà thơ với người mình thầm thương trộm nhớ. Trầu cau từ xưa là thứ không thể thiếu trong tập tục cưới hỏi và nó là hình tượng thể hiện mối tình trăm năm hạnh phúc. Giàn giầu như đang chờ đợi hàng cau đến để têm thành miếng trầu kết duyên vợ chồng trăm năm. Từ nỗi tương tư da diết của nhà thơ đã biến thành mong muốn được nên duyên một đời. Miếng trầu là đầu câu chuyện, miếng trầu như gợi ta nhớ đến sự tích trầu cau hay truyện cổ tích Tấm Cám xưa.

    Nét mộc mạc giản dị trong từng miếng trầu ấy, đậm đà tình quê. Câu thơ “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” một lần nữa vang lên tạo hiệu ứng đầu cuối tương ứng, tiếng yêu như da diết khôn nguôi cho đến cuối bài. Như vậy mở đầu bằng nỗi nhớ thì cuối cùng nhà thơ cũng kết thúc bằng một nỗi nhớ. Trách móc hờn giận mà tràn đầy tình ý, nhẹ nhàng và sâu lắng.

    Tương tư của Nguyễn Bính là một trong những bài thơ góp phần tạo nên tên tuổi của ông và nó làm giàu cho phong trào thơ mới nói riêng và nên thơ ca Việt Nam nói chung. Đọc bài thơ ta biết, nỗi nhớ ấy sẽ còn vọng mãi qua bao thời đại thi ca.

    2. Phân tích bài thơ Tương Tư bài số 2

    Tương tư là nỗi nhớ nhau của tình yêu đôi lứa. Nhưng trong cuộc đời, tương tư lại thường là nỗi nhớ đơn phương. Người này nhớ, mà đôi khi cứ ngỡ người kia vô tình lắm, chẳng hề biết, chẳng muốn biết rằng mình đang khổ sở vì tương tư. Thực tình, nhớ là hiện thân của yêu: một tâm hồn đang nhớ là một trái tim đang yêu; một tâm hồn ngừng nhớ là dấu hiệu chắc chắn của một trái tim đã ngừng yêu. Cho nên có kẻ nào yêu mà chẳng từng tương tư. Nguyễn Bính cũng thế ! Chàng trai chân quê này tương tư và đã trải đến tận cùng những cung bậc tương tư, nói khác đi, là đã bị mọi cung bậc của tương tư giày vò đến khổ sở.

    Yêu nhau, mà xa nhau, tất sẽ nảy sinh nhung nhớ. Nhớ nhung thực chất là khát khao được có nhau, gần nhau. Xa cách về không gian và thời gian chính là duyên cớ để tương tư. Vì thế mà trong bản chất tình cảm, tương tư là một khao khát, một nỗ lực vượt không gian và chiến thắng thời gian bằng tinh thần. Không gian, thời gian vô cớ trở thành kẻ thù của những tình nhân bị xa cách. Và đây là những kẻ thù nghìn lần đáng ghét. Bởi trong nỗi tương tư, khoảng cách dù là ngắn cũng trở thành diệu vợi, nghìn trùng; một khoảnh khắc cũng thành đằng đẵng, thăm thẳm.

    Đôi khi chỉ tấc gang cũng thành vực thẳm. Thậm chí, với một tình nhân giàu dự cảm thì dẫu chưa xảy ra xa cách, đã khắc khoải tương tư rồi:

    - Vừa thoáng tiếng còi tàu

    Lòng đã Nam đã Bắc

    - Nên cả lúc gần anh

    Mà lòng em vẫn nhớ.

    (Xuân Quỳnh)

    Trong bài thơ của mình, Nguyễn Bính đã nói lên nỗi tương tư nghìn đời của những lứa đôi. Ngay những lời mở đầu đã vẽ ra một nỗi tương tư chan chứa cả cảnh sắc thôn làng:

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

    Một người chín nhớ mười mong một người.

    Chỉ vì có một chàng trai thôn Đoài đang gửi lòng say cô gái thôn Đông mà cuối cùng đã thành thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. Cách nói bóng gió tạo hiệu quả không ngờ là hai miền không gian đang nhớ nhau. Điều này đâu phải vô cớ. Khi người ta tương tư, cảnh vật xung quanh cũng bị cuốn vào nỗi tương tư, không gian bao quanh cũng ngập tràn nhung nhớ. Người ta có nhìn bằng con mắt khách quan nữa đâu! Cảnh vật nhuốm màu tương tư cả rồi.

    Câu thứ hai đặc Nguyễn Bính ! Ấy là giọng kể lể. Một câu thơ được viết toàn bằng số từ! Không gian tương tư thật rõ. Câu bát có xu hướng kéo dài, nó càng dài hơn bởi giọng kể lể và chất đầy những số từ thậm xưng theo lối thành ngữ. Mỗi người đứng ở một đầu câu thơ, thăm thẳm, vời vợi. Giữa họ là một khoảng không diệu vợi. Nỗi tương tư giăng mắc một nhịp cầu "chín nhớ, mười mong", khởi lên từ đầu này và chấp chới, mơ mòng tới đầu kia. Kế đó là một sự lí giải:

    Gió mưa là bệnh của giời,

    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

    So sánh mình với giời, ngông là thế mà thấy cũng chấp nhận được. Bởi cả hai có cùng một căn bệnh. Tôi và giời hóa ra là hai kẻ đồng bệnh. Thế mà chưa hết đâu, cái tôi này còn toan tính hạ thấp cả giời trong so sánh đó nữa. "Gió mưa là bệnh của giời", thì bệnh đó là một thứ tật, một thói hư, giời giở chứng ra - một thứ bệnh nội sinh có sẵn! Còn "Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng" thì là căn bệnh mắc phải do "ngoại nhập". Từ ngày yêu nàng, tôi mới mắc bệnh này. Coi tương tư là một thứ "bệnh", mới kể lể được những khổ sở của cái tôi mang bệnh. Mà bệnh này đã mắc thì... phi em vô phương cứu chữa.

    Trong câu thơ, thấy có cái giọng chấp nhận một thực tế, một quy luật tất yếu không cưỡng lại nổi. Cái tôi hiện ra vừa như một tình nhân đắm đuối vừa như một nạn nhân tự nguyện rước bệnh, rước khổ sở vào thân. Có phải khi yêu, lời chân thành nào cũng hóa khôn ngoan thế chăng? Có phải thế là sự khôn ngoan... dễ thương ?

    Hình như tương tư thường bắt đầu bằng kể lể, giãi bày, và rồi chẳng mấy ai chịu dừng lại ở đó. Sẽ còn là trách móc, hờn giận, sẽ còn là giận dỗi đơn phương, khát khao đòi hỏi,... cũng đơn phương. Nghĩa là bệnh tương tư sẽ mỗi ngày một thêm trầm trọng. Mà "kì" nhất là, cũng một không gian ấy thôi, nhưng khi đã kể lể nỗi khổ của mình - cho mình, thì nó bỗng dài ra vô tận, trái lại, đến khi trách móc, "kể tội đối phương" thì nó lại thu hẹp đến kiệt cùng:

    Hai thôn chung lại một làng,

    Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này ?

    Mở ra, "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông", tưởng chừng nghìn trùng cách trở. Đến đây, té ra sự cách trở đã hoàn toàn triệt tiêu: tuy hai thôn nhưng thực ra chỉ có một làng. Quái lạ thay là tâm lí tương tư! Khoảng cách có vậy mà khéo co giãn, biến hóa làm sao!

    Nhưng xem chừng, hay nhất vẫn là sự kể lể về thời gian:

    Ngày qua ngày lại qua ngày,

    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

    Ngày trước, tả mối tương tư Kim - Kiều, Nguyễn Du cũng thấy cái nghịch lí trữ tình của thời gian:

    Sầu đong càng lắc càng đầy,

    Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.

    Một ngày thôi mà ngỡ đã ba thu. Thế cũng đã quá ư... trầm trọng! Dẫu sao, đó vẫn là nỗi tương tư được nói bằng giọng người trần thuật, ngoài cuộc. Còn lời thơ Nguyễn Bính vẫn nguyên sự sốt ruột, khắc khoải của người trong cuộc, y như lời lẽ của người đang ngồi bóc lịch đếm từng ngày rề rà chậm chạp trôi qua một cách vô tình, thậm chí như cố tình trêu ngươi vậy!

    "Ngày qua ngày lại qua ngày", câu thơ nhịp 3/3, chia thành hai vế, vế này là sự lặp lại của vế kia theo lối trùng điệp. Chữ "lại" chứa đựng một sự ngán ngẩm. Vừa hi vọng, vừa như thất vọng. Mỗi ngày mới đến nhen lên một hi vọng, để đến cuối ngày, hi vọng tàn đi thành vô vọng. Tất cả gợi được nhịp vận hành lặp đi lặp lại rời rã của những ngày đợi chờ, mong mỏi mà vô vọng vẫn hoàn vô vọng.

    Câu thứ hai vẽ ra một người nóng lòng chờ đợi cùng cái cây (nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính thường bộc bạch tâm trạng cùng với một cái cây nào đó. Đây thì chẳng rõ là cây gì, chỉ biết nó cũng nặng trĩu tương tư! Hay đó là cây tương tư?!). Kẻ tương tư và cái cây ấy có một mối tương giao kì lạ. Thời gian với kẻ tương tư chẳng vô hình. Nó có màu: ấy là màu vàng héo. Mỗi ngày qua đổ lại một dấu vết nhỡn tiên trên vòm lá. Cái cây khác nào một cuốn lịch thiên nhiên. Hơn thế, cái cây là nhân chứng của mối tương tư, là tri kỉ câm lặng của kẻ tương tư, là nạn nhân của bệnh tương tư hay là kẻ đồng nạn? - nạn nhân bởi sự hững hờ của ai kia. Anh đợi em khi cây hãy còn xanh, đến nay cây đã vàng hết cả rồi, vậy mà... Đợi chờ làm cây héo úa, làm người héo hon!

    Cái cây kia là hình ảnh khác của anh! Cái cây kia chính là anh. Tả cảnh ngụ tình là thế! Phải nói chữ "nhuộm" thật đắt. Cũng viết về sự thay đổi sắc màu trên cây cỏ, khi Thuý Kiều tiễn biệt Thúc Sinh, Nguyễn Du viết:

    Người lên ngựa kẻ chia hào,

    Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

    Chữ "nhuốm" rất động, nói được sự biến đổi đang diễn ra, chưa hoàn tất. Dường như sắc màu này vốn từ cuộc chia li ở câu trên đã hắt sang câu dưới, đã phổ vào cảnh vật nên mới "nhuốm". Nó là sự lây lan từ tinh thần con người xâm nhập vào cây cỏ. Còn chữ "nhuộm" của Nguyễn Bính gợi được thời gian. Bởi xem chừng nó tĩnh hơn. Quá trình diễn biến đã hoàn tất: lá xanh đã biến thành lá vàng rồi, sắc thái kể lể đậm hơn. Thời gian đợi chờ của anh đằng đẵng, dằng dặc đến nỗi đủ để nhuộm một cây xanh thành hẳn cây lá vàng cả rồi! Lời thơ vì thế mà khổ sở, khắc khoải bội phần.

    Có phải tương tư là một gánh nặng đơn phương, càng nặng nề bao nhiêu, càng nghĩ "đối phương" vô tình bấy nhiêu. Vì thế mà cung bậc tương tư cứ chuyển biến rất tự nhiên từ kể lể, thở than sang trách móc? Mà lời trách móc thì, ôi chao, đầy một lối "quy kết" khó mà "chạy tội" được:

    Bảo rằng cách trở đò giang,

    Không sang là chẳng đường sang đã đành.

    Nhưng đây cách một đầu đình,

    Có xa xôi mấy mù tình xa xôi...

    Vẫn cái "luận điệu" dễ ghét ấy. Kể lể nông nỗi mình thì cũng một sự xa cách kia mà hóa muôn trùng, thăm thẳm. Còn ở đây thì "phủ định sạch trơn": không hề có xa cách - không có cách trở đò giang, không phải không có đường, mà thậm chí còn gần lắm, chỉ có một đầu đình thôi. Tất cả chỉ do em hờ hững chứ chả có lí do khách quan gì! Người đâu có người mỗi lời lại một vận vào người ta thế có "khiếp" không! Nhưng không có luận điệu ấy thì làm sao có thể "quy chụp" người ta vô tình được!

    Sao những trái tim yêu lại có thể "ranh mãnh" một cách hồn nhiên đến thế! Vậy đấy, trong nỗi tương tư, trái tim thường cất lên những lời buộc tội thật dễ thương. Và khi "người ta" đã nhân danh nỗi khổ vì tương tư, thì nghe những lời buộc tội "khó chịu" đến đâu cũng đành mà "chịu khó" thôi, nghĩa là cũng thật dễ chịu thôi, chẳng phải thế sao?

    Trách chưa hết đã lại hờn:

    Tương tư thức mấy đêm rồi,

    Biết cho ai, hỏi ai người biết cho !

    Hờn mát đến điều rồi thì lại khát khao đến độ:

    Bao giờ bến mới gặp đò ?

    Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?

    Và cuối cùng thì khẳng định đinh ninh:

    Nhà em có một giàn giầu,

    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ?

    Tất cả đã sẵn sàng và đang nóng lòng chờ đợi. Chỉ còn em nữa thôi! Thôn Đoài đã hẳn là nhớ thôn Đông, điều ấy không còn nghi ngờ bàn cãi nữa rồi. Vậy thì, cau thôn Đoài còn biết nhớ giầu không thôn nào nữa đây. Câu thơ chứa trong nó một lô gích thật... nguy hiểm!

    Vậy là, trong thẳm sâu tâm lí, tương tư chính là khao khát hạnh phúc lứa đôi, khao khát thành đôi thành lứa. Khao khát ấy tràn ra trong giọng điệu khi kể lể phân trần, khi giận hờn trách móc. Khao khát ấy còn kí thác vào những cặp đôi giấu mình suốt dọc bài thơ. Ban đầu những đôi ấy còn xa xôi, càng về sau càng xích lại gần.

    Thôn Đoài - Thôn Đông

    Một người - Một người

    Tôi - Nàng

    Bên ấy - Bên này

    Bến - Đò

    Hoa Khuê Các - Bướm giang hồ

    Nhà anh - Nhà em

    Và cuối cùng là :

    Trầu - Cau

    Kết như thế thật khéo !

    Vòng vo, xa gần, cuối cùng vẫn cứ tụ lại ở điều cần nhất, khắc khoải nhất: ấy là trầu - cau ! Mà trầu cau là chuyện nhân duyên. Điểm truyền thống rất nổi bật ở Nguyễn Bính là quan niệm luyến ái. Là một nhà thơ mới, nhưng Nguyễn Bính không có cái chủ trương yêu hiện đại với cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình trong giây lát, cái tình ngoài thiên thu như điệu sống thời thượng bấy giờ. Các nhà thơ hiện đại chỉ quan tâm đến tình, ít quan tâm đến duyên.

    Nguyễn Bính quả là chân quê khi coi trọng nhân duyên. Yêu đương với chàng thi sĩ này dứt khoát phải gắn liền với chuyện trăm năm, với hôn nhân. Nghĩa là với cau - trầu. Thực ra, những cặp hình ảnh kia vẫn chưa thành đôi hẳn, mà mới chỉ ở dạng tiềm năng, vẫn còn để ngỏ và chờ đợi. Vâng, đợi chờ một vị "cứu tinh" duy nhất là Em. Em đến, trầu cau sẽ thắm lại và tất cả các cặp còn hờ kia sẽ kết thành đôi. Bệnh tương tư sẽ được cứu chữa ! Nỗi khổ sở sẽ hết giày vò! Vân vân và vân vân.

    Nhưng em biết không, khi tất cả những điều kia đã thành, thì cũng là lúc nỗi tương tư bắt đầu... bị hoá giải.

    3. Văn mẫu 11 phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính bài số 3

    Nguyễn Bính là nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám. Giữa những giọng điệu mới lạ, thơ Nguyễn Bính vẫn giữ được âm hưởng gần gũi với ca dao dân ca, giản dị hồn nhiên mà ngọt ngào, thắm thiết. Tương tư in trong tập Lỡ bước sang ngang, xuất bản năm 1940 tại Hà Nội. Tập thơ này đã mang lại tiếng vang cho tác giả và dấy lên trong đông đảo người đọc một phong trào thuộc thơ, yêu thơ Nguyễn Bính.

    Bài thơ Tương tư nói lên tâm trạng khắc khoải chờ mong của một chàng trai đang yêu với tình yêu đơn phương không được đáp đền. Mối tương tư ấy được đặt vào khung cảnh nông thôn với dáng dấp một mối tình chân chất như trong ca dao và mang hương vị đồng quê mộc mạc…

    Tâm lí của những kẻ đang yêu là luôn muốn được gần gũi bên nhau. Bởi vậy, một ngày không gặp dài bằng ba thu. Những người đang yêu nhớ nhau mà không gặp được nhau thì sinh ra tương tư. Thường là một người thương nhớ một người mà không được đền đáp lại, trường hợp này trong văn chương mới gọi là tương tư. Lịch sử tình yêu xưa nay đã ghi nhận bao trái tim Trương Chi tan nát bởi mối hận tình. Chàng trai trong bài thơ này cũng tương tư nhưng có phần nhẹ nhàng hơn bởi tình yêu chưa đặt được cơ sở rạch ròi.

    Bốn câu thơ đầu bày tỏ nỗi nhớ mong khắc khoải của kẻ đang yêu. Chàng trai không giấu là mình tương tư:

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

    Một người chín nhớ mười mong một người.

    Nắng mưa là bệnh của giời

    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng…

    Mối tương tư ấy được thể hiện bằng những hình thức quen thuộc trong ca dao xưa, ở đây, lối hoán dụ nghệ thuật, thủ pháp nhân hóa và thành ngữ dân gian kết hợp với nhau hài hòa, tự nhiên: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, rồi bệnh của giời, bệnh của tôi… Dường như đất trời cũng chia sẻ nhớ mong, dự phần tương tư với con người. Tôi yêu nàng, tôi tương tư, nào có khác chi trời lúc gió lúc mưa. Tâm trạng tương tư của chàng trai cũng tự nhiên như quy luật của trời đất vậy.

    “Cái tôi” trong thơ Nguyễn Bính xuất hiện cùng với những “cái tôi” khác trong Thơ mới lúc bấy giờ; có điều nó mang màu sắc độc đáo bởi nó thiết tha, chân thành, gần gũi với cuộc đời bình dị của người dân quê. Nó có thôn Đông, thôn Đoài, có chín nhớ mười mong, có giầu, có cau… Tưởng như một đôi trai gái đồng quê mới bén duyên nhau bên hàng rào dâm bụt, bên giậu mùng tơi, vừa rõ ràng mà vừa mơ hồ. Nhân vật tôi thì đã rõ, còn nhân vật nàng thì vẫn thấp thoáng, vu vơ.

    Nếu ở khổ thơ đầu, nhà thơ nói thật là mình đang tương tư thì đến ba khổ thơ sau, nhà thơ trách người mình yêu sao quá hững hờ:

    Hai thôn chung lại một làng,

    Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

    Ngày qua ngày lại qua ngày,

    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

    Bảo rằng cách trở đò giang,

    Không sang là chẳng đường sang đã đành.

    Những đây cách một đầu đình,

    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?

    Tương tư thức mấy đêm rồi,

    Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?

    Bao giờ bến mới gặp đò?

    Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?

    Vậy là chàng trai đang nhớ thật, đang tương tư thật, nhưng khổ tâm ở chỗ nhớ thương có đi mà không có lại. Âm điệu thơ lục bát uyển chuyển, mượt mà rất hợp với cách thể hiện dung dị: nào là hai bên chung lại một làng, bên ấy, bên này; nào là Cách nhau có một đầu đình; Có xa xôi mấy mà tình xa xôi… Trách móc rồi tự bộc bạch là mình Tương tư thức mấy đêm rồi và ước mong: Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau? Trách, hỏi liên tiếp, dồn dập mà người ta vẫn hững hờ, xa xôi.

    Ở đời có những tình yêu như thế bởi đối tượng mình yêu đến tương tư kia lại mơ hồ, vô định. Trách và hỏi đều rơi vào khoảng trống khiến cho nỗi tương tư càng trở nên xót xa, vô vọng. Vẫn là bên ấy, bên này cách biệt. Ngày qua ngày lại qua ngày, Lá xanh nay đã thành cây lá vàng. Thời gian cứ lạnh lùng trôi mà bên ấy vẫn bằn bặt bóng chim tăm cá. Hỏi làm sao bên này chẳng chờ đợi đến hao mòn, tàn úa? Mơ làm chi đến chuyện bao nhiêu ngói bấy nhiêu tình hay chuyện tam tứ núi, ngũ lục sông…?

    Thế là đã rõ: Tất cả đều vu vơ, chỉ có một điều rất thật là nỗi buồn da diết của chàng trai đang tương tư. Yêu người mà chẳng được người yêu, nhớ mong mà chẳng gặp. Một mối tình như thế sẽ kết thúc ra sao? Chàng trai trở lại với ước mơ thầm kín về một cuộc hôn nhân tốt đẹp cùng nỗi băn khoăn, khắc khoải của lòng mình:

    Nhà em có một giàn giầu,

    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

    Đến lúc này thì không cần vòng vo, ẩn giấu chi nữa, chàng trai không còn xưng tôi mà mạnh dạn xưng là anh và gọi nàng bằng em. Cũng chẳng cần bóng gió xa xôi: Bao giờ bến mới gặp đò… hay Tương tư thức mấy đêm rồi… mà nói thẳng đến chuyện hôn nhân:

    Nhà em có một giàn giầu,

    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

    Thử hình dung cau ấy, giầu này mà kết thành một mâm xinh đẹp thì thật tà đúng nghi lễ cưới xin. Nhưng trớ trêu làm sao: giầu thì ở nhà em, cau lại ở nhà anh. Em ở thôn Đông, anh ở thôn Đoài: Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông. Vậy: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? Như vậy là tương tư chưa đi quá nỗi nhớ và nỗi nhớ vẫn chỉ là một bên, một chiều. Tuy có nhích lên một chút cho thân mật hơn trong cách xưng hô anh và em, nhưng rồi lại quay về nơi ẩn náu cũ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, nghĩa là chẳng tiến lên được một bước nào.

    Mon men tới chuyện trầu cau nhưng vẫn không thoát khỏi nỗi buồn bởi nhớ nhung người ta mà chẳng được người ta đền đáp lại. Cho nên đành chấm dứt nỗi sầu bằng một câu hỏi tu từ: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? “Cái tôi” hiện đại bộc lộ một cách tự nhiên dưới hình thức quen thuộc của ca dao xưa: thôn Đoài, thôn Đông… và nhờ đó mà nỗi đau dường như vợi bớt. Cho nên nỗi tương tư cũng mới chỉ đến mức chín nhớ mười mong hoặc thức mấy đêm rồi, kể cả sự vô vọng dường như kéo dài dằng dặc trong không gian và thời gian kia cũng chỉ là chuyện bến chưa gặp đò, hoa chưa gặp bướm mà thôi.

    Nguyễn Bính sáng tác Tương tư năm 1939. Bài thơ là một mảnh hồn của nhà thơ, là “cái tôi”mang đậm phong cách Nguyễn Bính: giản dị, hồn nhiên, dân dã mà không kém phần thơ mộng, lãng mạn. Nhà thơ nói chuyện tương tư, kì thực là nói tới khao khát tình yêu và hạnh phúc. Qua đó khẳng định “cái tôi cá nhân” với quyền được sống đúng nghĩa của nó. Tương tư là một trong nhiều dẫn chứng chứng minh cho nhận xét tinh tế của Tô Hoài: Nguyễn Bính là nhà thơ của tình quê, chân quê, hồn quê.

    -/-

    Trên đây là top 3 bài văn mẫu tuyển chọn phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính mà Đọc tài liệu đã biên soạn. Mong rằng với những bài mẫu này sẽ phần giúp các em trong việc tham khảo, qua đó học hỏi và áp dụng được những lời văn, câu từ hay vào bài viết của mình. Chúc các em học tốt môn văn!

    Bạn còn vấn đề gì băn khoăn?
    Vui lòng cung cấp thêm thông tin để chúng tôi giúp bạn
    Hủy

    CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM