Phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà

Xuất bản ngày 27/08/2018 - Tác giả: - Tham vấn bởi:

Hướng dẫn phân tích hình tượng sông Đà, lập dàn ý chi tiết và tham khảo một số bài văn hay phân tích hình tượng con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Tài liệu hướng dẫn phân tích hình tượng sông Đà do Đọc Tài Liệu biên soạn gồm gợi ý cách làm chi tiết và tuyển chọn những bài văn mẫu hay phân tích hình tượng con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Hướng dẫn phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà

Đề bài: Phân tích hình tượng con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân).

1. Phân tích đề

- Yêu cầu đề bài: phân tích hình tượng con sông Đà.

- Phạm vi tư liệu, dẫn chứng: các câu, từ ngữ, chi tiết tiêu biểu về con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

- Phương pháp lập luận chính: Phân tích.

2. Hệ thống luận điểm phân tích hình tượng sông Đà

- Luận điểm 1: Hình ảnh con sông Đà hung bạo ở thượng nguồn.

- Luận điểm 2: Hình ảnh sông Đà trữ tình ở hạ lưu.

Lập dàn ý chi tiết

Trước khi làm bài, các em có thể tham khảo dàn ý phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà để nắm được cách làm và các ý chính cần triển khai.

1. Mở bài

- Giới thiệu sơ lược về tác giả và tác phẩm:

+ Nguyễn Tuân (1910 - 1987) là tác giả yêu cái đẹp, suốt đời đi tìm cái đẹp, có phong cách nghệ thuật độc đáo: uyên bác, tài hoa.

+ "Người lái đò sông Đà" (1960) là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của Nguyễn Tuân.

- Giới thiệu hình tượng con sông Đà: Hình tượng con sông Đà chính là thứ vàng mười của thiên nhiên mà Nguyễn Tuân tìm kiếm.

2. Thân bài: Phân tích hình tượng con sông Đà

* Hình ảnh con sông Đà hung bạo ở thượng nguồn

- Hướng chảy của sông Đà cho thấy đó là một dòng sông đầy cá tính “Chúng thủy giai đông...”.

- Bờ sông dựng vách thành: lòng sông hẹp, “bờ sông dựng vách thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”, "con hổ con nai có thể vọt qua sông"...

- "Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy... cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nên vừa tắt phụt đèn điện" -> hình ảnh so sánh mới lạ đến bất ngờ mô tả cái hẹp của lòng sông.

- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm” một cách hỗn độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đó.

-> Sông Đà như đang náo động, gào thét muôn vạn âm thanh, cuồng nộ, dữ dằn như lúc nào cũng muốn tiêu diệt con người.

- Ở Tà Mường Vát: “có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông”, chúng “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước”, thuyền qua đoạn hút nước “y như ô tô... mượn cạp ngoài bờ vực” -> Con sông Đà không khác gì loài thủy quái với những tiếng kêu ghê rợn như muốn khủng bố tinh thần và uy hiếp con người.

- Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:

+ Xa: âm thanh thác đá “còn xa lắm” mà đã nghe tiếng thác “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, âm thanh ấy hiện lên với nhiều trạng thái khi “oán trách”, lúc “van xin”, khi “khiêu khích”, “chế nhạo”; cách so sánh độc đáo: “rống lên như một ngàn con trâu... cháy bùng bùng” (lấy lửa tả nước).

+ Gần: Đá cũng đầy mưu mẹo: “nhăn nhúm”, “méo mó”, "hất hàm”, “oai phong”, “bệ vệ”, có những hành động như “mai phục”, “chặn ngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòn tỉa”.

-> Qua cái nhìn của Nguyễn Tuân, những hòn đá vô tri vô giác lại mang vẻ du côn của thiên nhiên hoang dại và hung dữ với ba trùng vi thạch trận.

+ Sự biến hóa linh hoạt của trùng vi thạch trận: có 3 vòng, vòng 1 có 5 cửa sinh, một cửa tử (tả ngạn), vòng 2 có nhiều cửa tử, 1 cửa sinh (hữu ngạn), vòng 3 có ít cửa và 1 cửa sinh (giữa)

  • Trùng vi thạch trận thứ 1: Bọn đá đứa thì "hất hàm" đứa thì "thách thức", "mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo", sóng nước "đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền"
  • Trùng vi thạch trận thứ 2: Sông nước bài binh bố trận ở khắp nơi, tăng nhiều cửa tử, cửa sinh nằm ở phía hữu ngạn
  • Trùng vi thạch trận thứ 3: Sông Đà sắp đặt bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở ngay giữa.

-> Gợi hình ảnh con sông Đà có tâm địa nham hiểm, mẹo lược, biến hóa khôn lường.

=> Sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người.

* Hình ảnh sông Đà trữ tình ở hạ lưu

- Khi từ tàu bay nhìn xuống:

+ Sông Đà “tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình... đốt nương xuân”

+ Sông Đà đổi màu theo từng mùa một cách độc đáo: mùa xuân xanh ngọc bích, mùa thu đỏ.

- Khi đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại con sông:

+ Niềm vui vô hạn của tác giả khi bất ngờ gặp sông Đà: “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “nối lại chiêm bao đứt quãng”, “như gặp lại cố nhân”.

+ Sông Đà gợi cảm như một cố nhân, có vẻ đẹp như trò chơi trẻ con tinh nghịch, có vẻ đẹp Đường thi.

- Khi đi thuyền trên sông phía hạ lưu:

+ Cảnh thiên nhiên thi vị, mơn mởn: trôi qua một nương ngô “nhú lá non”, con hươu thơ ngộ, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”.

+ Sông Đà như một “người tình nhân chưa quen biết”

-> Sông Đà trữ tình như một cố nhân, một tình nhân.

=> Hình tượng sông Đà vừa mang nét hung bạo lại vừa trữ tình thơ mộng. Qua hình tượng sông Đà đã thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với thiên nhiên Tây Bắc: một tình yêu thiết tha thiên nhiên đất nước, lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông, một ngọn thác, một dòng chảy.

* Đặc sắc nghệ thuật

- Ngòi bút miêu tả đậm chất tài hoa uyên bác

- Nghệ thuật so sánh, nhân hóa, ...

- Lối so sánh liên tưởng độc đáo

- Vận dụng tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau

- Ngôn ngữ giàu có, tinh tế hiện đại, giàu cảm xúc, đậm chất tạo hình, rất sắc sảo.

3. Kết bài

- Khái quát lại giá trị của hình tượng con sông Đà trong tác phẩm.

- Cảm nhận của em về hình tượng sông Đà.

4. Sơ đồ tư duy phân tích hình tượng sông Đà

Sơ đồ tư duy phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà

Một số bài văn đạt điểm cao phân tích hình tượng sông Đà

Phân tích cảm nhận hình tượng sông Đà

Pauxtopki từng tâm niệm “nhà văn chân chính là người dẫn đường tới xứ sở của cái đẹp”. Mỗi một trang viết của người nghệ sĩ chân chính phải là từ hoa với sắc biếc mây trời, ngạt ngào hương hoa, lấp lánh tình người trên tài hoa trí tuệ của con người. Có một nhà văn như thế đã đi vào hồn văn Việt Nam với trang hoa nổi tiếng “Người lái đò sông Đà”. Ấy là Nguyễn Tuân - người đã xây dựng thành công công trình mĩ thuật sông Đà và hình tượng con người lao động mới. Bước vào xứ sở sông Đà văn ông, người đọc choáng ngợp, hãi hùng bởi sự hung bạo của Đà giang và say đắm ngất ngây trước nét trữ tình của nó qua hai đoạn văn sau: “Hùng vĩ của sông Đà… khuỷnh sông dưới” và “Tôi có hay tạt ngang sông Đà… bản đồ lai chữ”.

Nguyễn Đình Thi từng phán về cụ Nguyễn là nhà văn “suốt đời đi tìm cái đẹp, cái thật”, tự nhận mình là người “sinh ra để thờ Nghệ thuật với hai chữ viết hoa”. Mỗi trang viết của văn nhân hiện lên là mỗi một tờ hoa với cái biến ảo kì diệu của ngôn từ. Nguyễn trong bất cứ đề tài nào đều lấy cái tài hoa làm phương diện khám phá con người và lấy tiêu chí thẩm mỹ đánh giá đối tượng.

Tác phẩm “Người lái đò sông Đà” tiêu biểu cho phong cách này của Nguyễn Tuân. Tùy bút ra đời trong chuyến đi gian khổ mà hào hứng của Nguyễn Tuân lên miền Tây Bắc xa xôi rộng lớn. Ở đó, văn nhân đã khám phá ra chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và thứ vàng mười đã qua thử lửa ở tâm hồn người lao động nơi đây.

Hai đoạn trích trích ra từ tác phẩm hiện lên như tờ hoa về vẻ đẹp sông Đà. Trích văn đầu gợi ra những dòng cảm xúc đầu tiên về Đà giang nơi thượng nguồn hung bạo. Đoạn trích sau là niềm say mê, da diết của văn nhân trong phần sau của tác phẩm trước Đà giang trữ tình, thơ mộng. Mỗi một trích văn là một vẻ đẹp riêng khác biệt của công trình mỹ thuật sông Đà.

Là nhà văn của những cảm giác phi thường, những phong cảnh tuyệt mỹ, núi cao, rừng thông, sóng gió và thác ghềnh dữ dội, Nguyễn Tuân đã dùng những nét vẽ khoáng đạt để tạo nên hình tượng sông Đà thật độc đáo. Đập vào mắt người đọc, Đà giang xuất hiện ở đoạn trích thứ nhất với sự hung bạo mà ấn tượng đầu tiên chính là hình ảnh vách đá thành sừng sững. Văn nhân khẳng định “Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông dựng vách thành”. Sự dữ dằn nơi Đà giang là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố. Mà vách thành sông Đà là cảnh sừng sững án ngữ trước mặt độc giả ngay lần dạo chơi đầu tiên.

Cụ Nguyễn đã vận dụng tinh tế “thành cao hào sâu” để mở ra ấn tượng nơi người đọc về vách thành kiên cố, vững chắc, thâm nghiêm. Vách đá hiện lên như thành cao, sông Đà với vực thảm như hào sâu hun hút. Tất cả bước đầu dần kéo người đọc vào trùng vây liên tưởng choáng ngợp, hãi hùng. Chỉ hai chữ “vách thành” thôi văn nhân đã khắc tạc vào đó bao điều bí hiểm của thành quách cổ xưa sự rình rập của những đợt hỗn chiến, tấn công. Chính bởi thành trì ấy cao thăm thẳm, sâu hun hút mà “đúng ngọ mới có mặt trời”. Ánh nắng chói chang soi chiếu vạn vật nhưng chỉ khi lên thiên đỉnh mới được le lói trên lòng sông Đà.

Cao, sâu thôi chưa đủ cụ Nguyễn còn muốn đưa người đọc đến sự hung bạo tột cùng của cảnh đá bờ sông qua độ hẹp của sông Đà. Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân hai bên bờ sông như đang xích lại gần nhau: “Có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai, con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”. Độ hẹp lòng sông bị vách đá chèn ép tới mức nghẹt thở. Qua động từ “chẹt” người đọc cảm tưởng như vách thành đã lấn át hết cả bờ sông ghê rợn, hãi hùng. Những chi tiết miêu tả tưởng chừng như bâng quơ của cụ Nguyễn nhưng lại đem lại ấn tượng đậm nét hơn về độ hẹp nơi sông Đà. Chỉ hành động đơn giản của nai hổ, cú ném nhẹ chơi đùa của con người lại là thước đo tài tình hơn bất cứ con số chuẩn xác nào. Tất cả đã đem đến hình dung ban đầu về dòng sông, quy tụ tất cả tính từ đo lường nguy hiểm nhất: cao thăm thẳm, sâu hun hút, hẹp đến không thở nổi.

Chính bởi lẽ này cảm giác của văn nhân khi chèo thuyền qua đây mới thật thú vị: “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng cảm thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ nào mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”. Nguyễn Tuân đã tạo ra ấn tượng về xúc giác phi lý ngày giữa mùa hè. Nhưng suy nghĩ cùng dòng cảm giác này với Nguyễn, người ta mới thấy lạnh rợn tóc gáy, sởn gai ốc. Tuy nhiên cụ Nguyễn đâu giống người thường, nguy hiểm mà vẫn dậm tô cho kì được thêm cảm giác hãi hùng về độ cao rợn ngợp của vách đá sông Đà, qua từ ngữ không xác định “nào, mấy”, qua độ hẹp của hè phố và sự phụt tắt bất thình lình của đèn điện làm thót tim người quan sát khi đi vào khúc sông tối tăm này. Sông Đà hung bạo đã dần hiện ra trong trí óc người đọc bao hãi hùng, sửng sốt.

Tính chất hung bạo của Đà giang còn là sự kết hợp của quần thể những thác đá, sóng nước. Máy quay của người nghệ sĩ đã chuyển từ vách thành qua cái dữ dội ở mặt ghềnh Hát Loóng: “dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”. Đội quân sóng, nước, gió trên sông Đà đang bắt tay nhau tạo trận địa uy hiếp con người. Nhịp văn ngắn, nhanh, mạnh, dồn dập như đang muốn tạo cơn cuồng phong bão tố. Hình ảnh điệp nối tiếp luân chuyển nhau, sóng gió sông Đà cứ thế gối lên nhau, lần lượt uy hiếp con người. Cụ Nguyễn đã đặt vào ba vế câu ba điệp từ “xô” để cộng hưởng cho những đợt đánh liên hoàn dữ dội của sóng nước thác đá. Chúng như con thủy quái đầm lầy đang cuồng nộ, bẳn tính, gắt gỏng vô cớ giận dỗi với con người. Đà giang “gùn ghè” đe dọa con người như thói quen thường ngày của nó. Nó sẵn sàng tiêu diệt, nuốt trọn bất cứ tay lái khinh suất nào. Một khía cạnh hung bạo nữa của con thủy quái hiện ra đe dọa, uy hiếp con người.

Dưới bàn tay ma thuật của văn sĩ, sông Đà hung bạo tiếp tục nghênh chiến với người đọc qua đội quân hút nước dữ dằn. Hút nước hiện ra trước mặt độc giả qua hình ảnh “cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”, qua âm thanh ghê rợn của “cửa cống cái bị sặc” với sự cộng hưởng đến đáng sợ giữa hình ảnh, âm thanh “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Đứng trước nhà ảo thuật ngôn từ, người ta dễ thấy cái cảm giác bất lực khi khó có thể tìm thêm tính từ nào cho sự hung bạo ấy. Cái cảm giác hãi hùng của người đang xem phim hành động chỉ muốn nhắm tịt hai mắt vì kinh sợ. Vậy mà nhà văn tài hoa, uyên bác Nguyễn Tuân vẫn lạnh lùng pha kích thích chĩa ống kính về cái “lừ lừ” bí ẩn, cái “ặc ặc” ghê rợn của sông Đà.

Đi thuyền qua quãng sông này, Nguyễn đưa người đọc cùng vào chơi trò chơi mạo hiểm qua hình dung về “ô tô sang số ấn ga…vút qua quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực”. Chưa bao giờ người đọc lại tưởng tượng thấy cảm giác đáng sợ của đường sông rõ ràng như vậy qua cái hình dung về đường bộ. Chèo thuyền men gần hút nước này chắc chỉ người thích phiêu lưu như Nguyễn hay dũng cảm như ông lái đò mới dám thử. Ghê sợ là vậy mà cụ Nguyễn vẫn còn đủ sức hình dung: bè gỗ rừng bị lôi tuột xuống, thuyền bị dìm cho tan xác trên sông Đà. Chiều kích trí tưởng tượng của nhà văn mở rộng hết cỡ. Ông muốn cùng người đọc đi tới cái hung bạo đến tột cùng của Đà.

Qua hình ảnh con sông hung bạo, cảnh trí hùng vĩ, mênh mông của quê hương hiện ra với bao niềm tự hào, phấn khích. “Xứ sở của cái đẹp” Đà giang sẽ không trọn vẹn nếu thiếu đi nét trữ tình, thơ mộng của chất vàng tây Bắc. Ở đoạn trích sau, nhà văn đã say sưa, thích thú trước vẻ đẹp lãng mạn của sông Đà. Ông quả là một nhà văn có tâm khi dụng công bay tạt qua sông Đà mấy lần để có cái nhìn bao quát nhất về dáng vẻ sông Đà. Từ trên cao nhìn xuống, Nguyễn Tuân thích thú phát hiện ra nét trữ tình đầu tiên của Đà qua hình ảnh “cái dây thừng ngoằn ngoèo”. Sông Đà như ca dao xưa ví dòng sông uốn lượn như hình con long trên núi. Dòng sông bỗng mềm đi, uyển chuyển, nhẹ nhàng uốn lượn qua những dãy núi, triền đê. Vẻ đẹp ấy của dòng sông làm nhà văn dường như không tin vào mắt mình.

Đến đây tất cả sự dữ dằn của con thủy quái cuồng nộ với ông đò, con sông dữ dội của câu đồng dao dần biến mất, trả về vẻ duyên dáng cho sông Đà ở trung lưu. Đặc biệt dáng điệu trữ tình của Đà giang còn gây ngây ngất lòng người qua hình ảnh “con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi mèo đốt mương xuân”. Không phải vô cớ “người thợ kim hoàn của chữ” lại đặt vào câu văn hai tính từ “tuôn dài”. Với điệp từ này sự miên man bất tận của dòng sông trải ra vô tận dọc khắp chiều dài biên giới phía Tây của Tổ quốc. Sự mềm mại của dòng sông được ví như mái tóc mượt mà, nữ tính của người con gái. Dòng sông mang nét đẹp yêu kiều, duyên dáng làm đắm say bao hồn người khi nhìn nó ở góc độ này.

Điểm đặc biệt trong cách miêu tả trên chính là vẻ đẹp đậm chất thơ mà nhà văn phú cho sông Đà. Ông lấy áng thơ đặt vào áng tóc. Phải chăng sông Đà thơ mộng đến độ khiến cụ Nguyễn muốn đề thơ vào sông nước. Sông Đà đang bung nở sức xuân trên nền trắng của hoa ban và sắc đỏ của hoa gạo. Nhà văn đã dùng cọ mẫu vẽ lên mấy nét khiến bức họa hiện lên xao động lòng người. Sông Đà ở góc dộ này vừa nhuốm màu thơ, dậm tô màu họa, nữ tính e ấp như cô gái đáng yêu. Bởi nó được phủ lên tấm khăn voan mỏng của làn khói làm thi vị, hư ảo đến lạ lùng. Qua dáng vẻ ấy, Đà của Nguyễn hiện lên như người con gái Tây Bắc nữ tính, dịu dàng, e ấp, kín đáo và đầy bí ẩn.

Bức họa về sông Đà trữ tình còn được tô điểm bởi màu nước nơi đây. Thế giới văn chương luôn tâm niệm nhà văn hay là người phải hội tụ đủ cả tâm và tài. Nhà văn phải ngụp lặn vào đời sống để dùng cái tâm cảm thấu cuộc đời và lấy tài phú lên cảnh vật. Để miêu tả được hai mùa nước đẹp nhất trên sông Đà, Nguyễn Tuân chắc hẳn phải dụng công nghiên cứu kĩ lưỡng lắm. Ông say sưa đắm chìm trong sắc xanh của làn nước mùa xuân. Ông trân trọng gọi nó là “dòng xanh ngọc bích” trong xanh, quý phái và êm nhẹ.

Nếu Hoàng Phủ Ngọc Tường dành cho sông Hương niềm tự hào khi thuộc về một thành phố duy nhất thì Nguyễn Tuân lại dành niềm thiên vị cho sông Đà khi so sánh dòng ngọc bích trong trẻo ấy với màu xanh canh hến lờ đục của sông Gâm, sông Lô. Đó là biểu hiện của niềm yêu, tâm hồn thích thị tài, khoe uyên bác. Sự uyên bác còn được văn nhân đặc tả màu nước sông Đà về mùa thu “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bần đi vì rượu bữa bất mãn, bực bội gì mỗi độ thu về”. Đó là dòng phù sa nặng nề đang chảy. Phù sa ăm ắp sông Đà sẽ đổ đi khắp ruộng lúc, bờ dâu, bãi mía…để góp phần tô điểm cho sự trù phú của Tổ quốc.

Ở hình ảnh con sông trữ tình, người ta còn thấy được niềm gửi gắm của một tấm lòng tha thiết với quê hương. Nhà văn khẳng định: “nước sông Đà chưa bao giờ đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực tây vào mà gọi bằng cái tên Tây láo lếu”. Luận điệu bác bỏ như một lời khẳng định, lời tố cáo luận điệu xảo trá của bọn thực dân. Ông muốn trả lại vẻ trữ tình vốn có cho sông Đà bằng sự yêu mến của một niềm yêu: yêu thiên nhiên, tình yêu nước. Hình tượng sông Đà trữ tình ở đoạn này đã làm ngây ngất đắm say bao trái tim độc giả.

Qua hai đoạn trích trên, người nghệ sĩ đích thực Nguyễn Tuân đã góp vào đầy đủ bộ mặt của sông Đà hung bạo và trữ tình. Có được điều ấy không thể không nhắc đến tài năng của văn nhân qua việc xây dựng hình thức nghệ thuật độc đáo. Việc phóng túng trong cách sử dụng thể tùy bút để ông thoải mái, tự do bày tỏ niềm say mê với dòng sông Đà, thỏa trí sáng tạo trên nền hiện thực. Nhà văn khám phá con sông từ phương diện thẩm mĩ khiến nó hiện lên như một công trình mĩ thuật kì vĩ. Việc văn nhân vận dụng tài tình kiến thức của điện ảnh hội họa vào thơ văn cùng với cách kết hợp từ vô cùng độc đáo: những câu văn ngắn, nhịp nhanh, động từ mạnh khi miêu tả sông Đà hung bạo, câu văn dài, liền mạch cùng thanh huyền êm ả khi miêu tả sông Đà trữ tình; kết hợp với phép tu từ điệp, nhân hóa, so sánh. Tất cả sự biến ảo này của chuyên viên tiếng Việt đã góp phần tô đậm hình tượng sông Đà trong thế đối lập hung bạo và trữ tình.

Hai trích văn trên đã góp phần hoàn chỉnh bộ mặt của Đà giang. Con sông tiêu biểu cho phong cách tài hoa của Nguyễn Tuân. Sông Đà chính là hình ảnh của thiên nhiên đất nước giàu đẹp. Nó không chỉ chở niềm tự hào, say mê mà còn chất chứa tấm lòng yêu nước tha thiết của văn nhân cùng lời gửi gắm của ông vào tiềm năng phát triển thủy điện, du lịch sông Đà. Đọc Người lái đò sông Đà người ta thấy yêu và say đắm hơn với cảnh đẹp của quê hương, đất nước. Đồng thời người đọc càng trân trọng hơn sự thay đổi gắn văn học vào vẻ đẹp đời thường bình dị trong văn chương của Nguyễn Tuân.

Gấp trang sách của Nguyễn Tuân, người đọc vẫn hiện rõ trong cảm giác cái hãi hùng, rùng rợn trước con thủy quái sông Đà, nhưng lại ngây ngất trước cái đáng yêu của cô gái sông Đà. Đà giang sẽ là cái nền để cùng tôn cao thêm hình ảnh con người. Sông Đà với bao ấn tượng đã bước vào văn chương cụ Nguyễn, cứ thế len lỏi vào tâm trí người đọc không thể nào quên.

(Nguồn: Thuỳ Dương)

Phân tích sông Đà bài số 1:

     Người lái đò sông Đà là một trong những tùy bút xuất sắc nhất trong tập tùy bút “Sông Đà” của Nguyễn Tuân, tập tuỳ bút cũng đánh dấu sự chuyển biến trong tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Tuân so với giai đoạn trước cách mạng. Trong Người lái đò sông Đà không chỉ nổi bật hình ảnh của người lao động kiên cường dũng cảm mà còn nổi bật một thiên nhiên đẹp đẽ, mang trong mình hai vẻ đẹp đối lập là vẻ đẹp hung bạo và vẻ đẹp trữ tình. Hai vẻ đẹp này hòa quyện, tạo nên bức tranh hoàn chỉnh cho dòng sông.

Trước hết về lai lịch của dòng sông, theo như Nguyễn Tuân, dòng sông khai sinh ở huyện Cảnh Đông - Vân Nam - Trung Quốc, sau đó ra nhập quốc tịch Việt Nam và cứ thể trưởng thành mãi lên. Những chữ như khai sinh, quốc tịch,… đã biến dòng chảy của con sông trở nên dòng đời, số phận và sinh thể sống.

Trước hết dòng sông mang vẻ đẹp hung bạo, dữ dội, bởi trước khi nhập quốc tịch Việt Nam nó đã chảy qua một vùng núi ác của Trung Quốc. Diện mạo của dòng sông hết sức dữ dằn: đá bờ sông dựng đứng “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu”. Hình ảnh so sánh lạ đã tái hiện được sự thu hẹp đột ngột bất ngờ của dòng sông, kết hợp với kĩ thuật miêu tả tỉ mỉ: “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời” cho thấy quang cảnh vừa hùng vĩ, vừa âm u, rợn ngợp. Cùng với đó là trường liên tưởng độc đáo và lạ, Nguyễn Tuân đã gợi ra cái lạnh lẽo từ quang cảnh. Thông thường để tạo ra cái lạnh người ta thường liên tưởng đến mùa đông, còn Nguyễn Tuân lại liên tưởng: “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”. Cái này này thấm sâu vào da thịt, khiến người ta phải run rẩy vì sợ hãi.

Cái dữ dội, nguy hiểm của dòng sông còn được nhà văn tạo hình ở đoạn mặt ghềnh Hát Loóng. Bằng kiến thức địa lí sâu rộng, với vốn ngôn từ phong phú, Nguyễn Tuân đã tái hiện thành công vẻ đẹp hung bạo của dòng sông: “Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”. Câu văn trải dài, chia làm nhiều vế ngắn, có sự trùng điệp về cấu trúc tạo nên nhịp nhanh, mạnh, gấp gáp để diễn tả phản ứng dây chuyền giữa sóng, gió, nước và đá, chứa đựng đầy sự hiểm nguy.

Sự nguy hiểm còn thể hiện qua những cái hút nước trên sông. Âm thanh ghê rợn, “ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”, âm thanh vừa dữ dội, vừa kì quái, nó dường như được phát ra từ cổ họng một con quái vật. Về hình ảnh tác giả đặc tả những “đàn quạ bay lừ lừ trên những cái hút nước” gợi ra điềm gở, sự chết chóc. Tài hoa nhất là khi Nguyễn Tuân đẩy trường liên tưởng đến giới hạn xa nhất, khi tác giả vẽ ra cảnh một anh bạn quay phim táo tợn ngồi vào thuyền thúng để thả mình vào những cái hút nước ấy: “ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà…”.

Sau khi miêu tả diện mạo hiểm ác, Nguyễn Tuân tiếp tục đi sâu vào tâm địa của con sông. Dòng sông Đà mang tâm địa thâm độc, hiểm ác, và nó được Nguyễn Tuân tái hiện rõ nhất trong cách chúng bày các trùng vi thạch trận. Ở đây Nguyễn Tuân đã khai thác tối đa hiệu quả của biện pháp nhân hóa, để nhận ra những hòn đá kia mang tính cách, sắc diện của con người. Theo như lời mô tả của Nguyễn Tuân, hòn đá nào cũng nhăn nhúm, méo mó và dữ dằn, chúng phối hợp với nhau tạo thành thiên la, địa võng trên sông. Trước khi vào trận chiến đã tổ chức bố trí trận địa, chúng chia thành ba trùng vi thạch trận liên tiếp nhau chứa vô vàn những cửa tử, mà mỗi trùng vi thạch trận chỉ có một cửa sinh duy nhất, cửa sinh này biến hóa khôn lường. Qua đó thể hiện sự mưu mô, xảo quyệt của con sông với người lái đò. Bằng kiến thức phong phú, uyên bác trên nhiều lĩnh vực cùng với vốn ngôn ngữ giàu chất tạo hình, Nguyễn Tuân đã miêu tả trọn vẹn sự nguy hiểm, hung bạo của dòng sông, không chỉ ở diện mạo mà còn ở cả tâm địa, tính cách.

Ở thượng nguồn sông Đà mang trong mình vẻ đẹp kì vĩ, hung bạo, còn về đến hạ nguồn sông Đà lại mang một vẻ đẹp khác, dường như đối lập hoàn toàn đó là vẻ đẹp trữ tình, lãng mạn. Và ở trên phương diện này Nguyễn Tuân nhìn nhận sông Đà như một món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho đất trời Tây Bắc.

Để cảm nhận được toàn bộ vẻ đẹp sông Đà tác giả đã soi ngắm nó ở nhiều góc độ, thời gian khác nhau. Nhìn từ trên cao, sông Đà như một sợi dây thừng ngoằn nghèo, hết sức mềm mại, uyển chuyển. Sông Đà được ví “tuôn dài như một áng tóc trữ tình” dòng sông hiện lên vô cùng mĩ lệ, tựa như một người thiếu nữ kiều diễm. Đặc biệt vẻ đẹp của dòng sông lại càng nổi bật hơn khi xuất hiện sắc trắng tinh khiết của hoa ban, sắc đỏ đến nao lòng của hoa gạo cùng với làn khói mờ ảo, khiến cho dòng sông dường như chảy ra từ miền cổ tích. Màu sắc của dòng sông cũng thay đổi theo mùa, mùa xuân nước xanh ngọc bích, nước chảy êm đềm. Mùa thu lại lừ lừ chín đỏ như người say vì rượu bữa, hình ảnh so sánh thật đặc sắc cho thấy dòng chảy chậm chạp trở nặng phù sa của dòng sông.

Đặc biệt vẻ đẹp trữ tình của dòng sông được thể hiện rõ nét qua cảnh ven sông. Tác giả cố tình đẩy dòng sông vào miền cổ tích, để có cảm giác “từ thời Lí, Trần, Lê cũng tĩnh lặng đến thế mà thôi”. Để miêu tả cái tĩnh lặng của dòng sông tác giả đã sử dụng bút pháp lấy động tả tĩnh, chỉ có tiếng động của con cá dầm xanh song cũng đủ làm cho đàn hươu thơ ngộ giật mình ngơ ngác.

Về đến hạ lưu dòng chảy của sông Đà trở nên hiền hòa hơn, điều đó đã được Nguyễn Tuân diễn tả bằng một câu văn vô cùng tinh tế: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà”. Dù không miêu tả trực tiếp song âm điệu của câu văn đã toát lên sự nhẹ nhàng, êm ả, đầy duyên dáng của dòng sông.

Tác giả đi sâu vào miêu tả cảnh vật ven sông để làm nổi bật cái thơ mộng, lãng mạn của cảnh vật. Ông không tham lam các chi tiết mà chỉ một vài chi tiết rất đẹp, rất đặc sắc đã làm toát lên tất cả cái thần thái của bức tranh, đó là những nương ngô mới nhú, đồi cỏ ranh đang độ nõn búp,… Tất cả các chi tiết đều nhẹ nhàng, thanh thoát, nhưng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc.

Bằng ngòi bút tài hoa, vốn sống phong phú Nguyễn Tuân đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên sông nước của sông Đà hết sức đẹp đẽ. Sông Đà hiện lên qua những trang văn của Nguyễn Tuân không chỉ thuần túy là thiên nhiên, mà còn là một sản phẩm nghệ thuật vô giá. Qua đây tác giả cũng kín đáo thể hiện tình cảm yêu nước tha thiết và niềm say mê, tự hào với thiên nhiên của quê hương xứ sở mình.

Phân tích sông Đà bài số 2:

Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Những tác phẩm của ông viết bằng cái “ngông” và bằng tình yêu tha thiết. “Người lái đò sông Đà” là bài tùy bút lấy cảm hứng từ chuyến đi thực tế. Hình ảnh con sông Đà được nhìn qua lăng kính tâm hồn nghệ sỹ với nhiều vẻ đẹp khác nhau mang lại ấn tượng độc đáo đối với người đọc. Nguyễn Tuân đã rất thành công khi xây dựng hình tượng sông Đà bằng chất liệu ngôn ngữ và tình cảm phong phú.

Qua cái nhìn của Nguyễn Tuân, sông Đà “lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy”. Có thể nói phải thật tinh tế và khéo léo mới có thể nhận ra sự chuyển đổi của sông Đà như vậy.

Sông Đà hiện lên là dòng sông hung bạo, lắm thác ghềnh, ngỗ ngược, không chảy theo khuôn khổ. Vẻ đẹp hiểm trở, nguy hiểm của sông Đà được tác giả viết “đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng giờ ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng sông đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”. Chỉ với vài chi tiết phác họa con sông Đà hiện lên với nhiều phức tạp, khó khăn, nguy hiểm khôn lường. Tác giả đã diễn tả cảm xúc khi đi qua đoạn sông này “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mất vừa vụt tắt điện”. Một lối so sánh độc đáo, đầy táo bạo và cũng không kém phần tinh tế. Sông Đà đẹp, nhưng đẹp vẻ đẹp hùng vĩ, hoang dại và nguy hiểm.

Chưa dừng lại ở đó, Nguyễn Tuân còn khiến người đọc bất ngờ hơn nữa khi miêu tả sự hùng vĩ, hung dữ đó “quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuyết bất cứ người lái đò nào tóm được qua quãng ấy”. Sông Đà hiện lên như một kẻ bất chấp hết, có thể lấy đi tính mạng của những ai vô tình đi qua đây. Thật táo bạo, mãnh liệt và mạnh mẽ.

Khi Nguyễn Tuân miêu tả tiếng thác réo, người đọc có cảm tưởng như đang đứng trước sông Đà hùng vĩ chiêm ngưỡng vẻ đẹp khó cưỡng đó “Như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Những câu văn với giọng điệu dồn dập, gay cấn, đầy cảm xúc. Một cảnh tưởng hùng vĩ, nguy hiểm vô cùng. Một cách so sánh tuyệt vời hiếm thấy trong văn học. Nguyễn Tuân thực sự là bậc thầy của ngôn ngữ, ông thổi hồn vào những con chữ, khiến con chữ như biết nói, biết rung động.

Đặc biệt hơn nữa, sông Đà hình thành ba trận chiến, người lái đò muốn vượt qua dòng chảy này thì phải vượt qua ba trận chiến hiểm trở, táo bạo này. Với giọng văn dồn dập, tác giả kéo người đọc vào cùng vượt thác với người lái đò. Trận thứ nhất “mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách…”. Sang đến trận thứ hai “tăng thêm nhiều của tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua bên phía bờ hữu ngạn”. Sang đến trận thứ ba dường như ít cửa hơn nhưng lại quyết liệt và mãnh liệt hơn. Sông Đà hiện lên không khác nào một con thủy quái đang đòi nuốt chửng người lái đò và chiếc thuyền bất cứ lúc nào có thể. Con sông chính là “kẻ thù số một” của người lái đò, với tất cả đặc tính nham hiểm, thâm độc nhất.

Tuy nhiên bên cạnh vẻ đẹp hùng vĩ, hiểm trở, nguy hiểm, sông Đà còn hiện lên thật nên thơ và trữ tình biết bao nhiêu. Qua ngòi bút tinh tế của Nguyễn Tuân “sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mùa khói mèo đốt nương xuân”. Thật tài hoa và thật trữ tĩnh, một hình ảnh tuyệt đẹp hiện lên giữa rừng núi hiểm trở Tây Bắc. Đặc biệt khi tác giả miêu tả nước của dòng sông mới thật tuyệt vời và thi vị biết bao “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu canh hến của sông Gâm sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu, lừ lừ cái màu đỏ giận giữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”. Những từ ngữ mượt mà, tươi đẹp đã làm nên vẻ đẹp hiếm có của một dòng sông tưởng chừng chỉ có giận dỗi và hung dữ.

Sông Đà có những lúc buồn mênh mang và hoang sơ đến lạ kỳ “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích xưa”. Thật là một vẻ đẹp nhẹ nhàng, chân chất và tươi mới biết bao nhiêu.

Qua đôi mắt người lái đò, hay là đôi mắt của tác giả sông Đà tạo nên những dòng cảm xúc thật lạ kì, thần tiên và mộng mơ quá đỗi. Có lẽ khi yêu mảnh đất này, cảm nhận nó ở mọi khía cạnh đều toát lên vẻ đẹp không phải nơi nào cũng có được. Và sông Đà cũng vậy, một vẻ đẹp khiến người đọc phải ngỡ ngàng.

Gấp trang sách lại nhưng hình ảnh con sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” lại ám ảnh người đọc cho đến sau này. Một vẻ đẹp hùng vĩ, hung dữ của thiên nhiên đan xen sự thơ mộng, nhẹ nhàng như chốn bồng lai. Đó chính là sự thành công của Nguyễn Tuân.

>> Xem thêmPhân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà

Phân tích sông Đà bài số 3:

Bằng phong cách nghệ thuật độc đáo: uyên bác, tài hoa, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề nhằm tìm cho ra những chữ nghĩa xác đáng nhất, có khả năng lay động người đọc nhiều nhất, Nguyễn Tuân đã sáng tác được rất nhiều tác phẩm có giá trị lớn, trong đó có sông Đà, một thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà tác giả thu hoạch được trong chuyến đi tới vùng Tây Bắc tổ quốc xa xôi, rộng lớn. Ông đã tìm được cái chất vàng của thiên nhiên cùng thứ vàng mười đã qua thử lửa được thể hiện trong thiên tùy bút "người lái đò Sông Đà" mà con sông Đà với sự hung bạo, trữ tình và thơ mộng của nó đã được tác giả miêu tả thật tài hoa.

Sông Đà bắt nguồn từ huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đi qua một vùng núi ác, đến gần nửa đường xin nhập quốc tịch Việt Nam. Sông có tổng cộng 73 con thác dữ và có tổng chiều dài là 983 km. Qua cái nhìn của Nguyễn Tuân, con sông Đà trở nên có tính cách phong phú, phức tạp, như một cố nhân "lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy".

Sông Đà hung bạo, lắm thác nhiều ghềnh: "Đường lên Mường Lễ bao xa – Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh" (Ca dao) và cái hung bạo ấy còn được thể hiện qua dòng chảy ngỗ ngược của nó: "Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu", một dòng chảy riêng, không khuôn mình vào lẽ thường. Vẻ nguy hiểm của sông không chỉ được thể hiện qua thác nghềnh mà đó còn là "đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia.

Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện". Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo, Nguyễn Tuân đã cho thấy sự nguy hiểm của dòng sông, một nơi hẹp như thế mà lưu tốc dòng nước vốn nhanh bây giờ lại trở nên xiết vô cùng. Cứ thử tưởng tượng con thuyền nào mà kẹt vào cái khe ấy thì tiến không được, lùi cũng không xong chỉ chờ sóng nước và đá đập cho tan xác mà thôi.

Cũng như "quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua quãng đấy". Bằng kết cấu trùng điệp, tác giả đã làm rõ sự nguy hiểm của con sông hung dữ, sẵn sàng lấy đi tính mạng bất cứ tay lái nào khinh suất.

Những cái hút nước ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La lại ghê rợn hơn nữa. "Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn. Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực. Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào. Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới". Thật là những cái bẫy ghê sợ, chết người!

Tiếng thác réo nghe càng ghê sợ hơn! "Như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng". Bằng nghệ thuật so sánh, nhân hóa tài ba cùng những liên tưởng "rất đắt", Nguyễn Tuân đã cho thấy một cảnh tượng thác nước hùng vĩ, nguy hiểm vô cùng. Lần đầu tiên trong thơ văn có người lại dùng lửa để miêu tả nước, hai nguyên tố có sức hủy diệt rất lớn lại luôn tương khắc với nhau, có nước thì không có lửa, ngược lại, có lửa thì không có nước. Vậy mà Nguyễn Tuân đã làm được điều đó. Ông quả là một nghệ sĩ bậc thầy!

Phối hợp với sóng nước với tiếng thác ầm ầm là "sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này". Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn, để chúng phối hợp lại thành ba trùng vi nguy hiểm:

Trùng vi thứ nhất: Sông Đà bày ra năm cửa trận, có bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, thực chất chúng đóng vai trò dụ chiếc thuyền vào tuyến giữa. Ở trùng vi thứ nhất này sóng nước đóng vai trò chính để tiêu diệt chiếc thuyền. Vừa vào trận địa, chúng tấn công chiếc thuyền tới tấp: "Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la bão nạt. Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò".

Vượt qua trùng vây thứ nhất, ông lái đò phải đương đầu với trùng vây thứ hai: "Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá đánh khuýp quật vu hồi chiếc thuyền". Tại trận chiến đánh giáp lá cà này, chúng quyết sinh quyết tử với ông lái đò. Khi chiếc thuyền đã vượt qua, bọn sóng nước cửa tử "vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng". Đúng là bọn đá sóng nước hiểm độc!

Đến trùng vi thứ ba: Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Tại đây những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi ở đầu chân thác phải đánh tan cái thuyền. Làm ta liên tưởng đến một trận đấu bóng quyết liệt. Chiếc thuyền như một cầu thủ phải phóng thẳng, chọc thủng cửa giữa, vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, và như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên được vừa tự động lái được lượn được, tiến về phía khung thành và cuối cùng đã hết thác. Trận bóng đã thắng lợi về phe người lái đò tài ba với "tay lái ra hoa".

Qua đó, ta thấy con Sông Đà như một loài thủy quái, hung hăng, bạo ngược biết bày thạch trận, thủy trận hòng tiêu diệt thuyền bè trên dòng nước của nó, một thứ thiên nhiên Tây Bắc với "diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một". Con sông mà "hằng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà". Chẳng thế mà sông Đà được gắn với câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh "Núi cao sông hãy còn dài – Năm năm báo oán đời đời đánh ghen".

Sông Đà đâu chỉ lắm thác nhiều ghềnh đầy hiểm nguy cho người lái đò mà còn đậm nét thơ mộng, trữ tình: "Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân". Một cách so sánh tài hoa, phong tình. Nước Sông Đà còn thay đổi theo mùa, trong đó đẹp nhất là mùa xuân và mùa thu: "Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về".

Con sông Đà gợi cảm với vẻ đẹp của nắng tháng ba Đường thi "Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu", làm cho người đi rừng dài ngày "vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng".

Sông Đà còn có những quãng, những không gian, những cảnh sắc đầy thơ mộng: "Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi". Có những cảnh hoang vu, hoang sơ đến kì lạ: "Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa". Cảnh sông Đà còn là "những nương ngô nhú lên những lá ngô non đầu mùa, những cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn cỏ gianh đẫm sương đêm". Trong lúc đang thưởng thức cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng và tuyệt đẹp như thế, nhà văn bỗng cảm thấy "thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu", muốn được đánh thức bởi sự hiện diện của con người.

Thiên nhiên tuy đẹp đấy nhưng hoang sơ, "tịnh không một bóng người", "một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa" mà không có ai chăm sóc, mà dường như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng vắng lặng như thế mà thôi. Thật buồn tẻ! Từ quá khứ nhà văn trở về với hiện tại và hướng tới tương lai đẹp đẽ. Đất đai ở đây sẽ có con người khai phá, đường xá sẽ được mở, những ngôi làng thị trấn sẽ được mọc lên, khắp nơi đều đầy ắp tiếng cười nói của mọi người.

Rõ ràng cảnh vật nếu không có con người thì vẫn chỉ là hoang sơ, tẻ nhạt mà thôi! Đang mộng mơ bên cảnh sông Đà, Nguyễn Tuân có mối giao cảm kì lạ với loài vật: "Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi ánh cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: Hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?". Ở đây dường như là con vật hỏi người hay chính là người đang say trong cảnh mộng mà tự hỏi mình.

Cảnh sông Đà thơ mộng là thế, có những khoảng lặng diệu kì khiến con người ta rơi vào cảm giác thần tiên để rồi tiếng đập nước của "đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi đuổi mất đàn hươu vụt biến" đánh thức người đang mộng. Nguyễn Tuân đã dùng cái động để tả thật tài tình cái tĩnh lặng kì diệu. Trở về với thực tại, lênh đênh trên dòng nước xanh ngọc đẹp đẽ, phẳng lặng, nhà thơ có sự đồng điệu trong cảm xúc về sông Đà như Tản Đà khi trước: "Dải sông đà bọt nước lênh bênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình" của "một người tình nhân chưa quen biết". Con sông Đà như một sinh vật có linh hồn, dòng nước trôi lững lờ "như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn, như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi". Con sông trở nên hiền hòa và thơ mộng, nó "trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên".

Bằng tình yêu thiên nhiên đất nước kết hợp với ngôn từ độc đáo, tài hoa, Nguyễn Tuân đã tái hiện lên một khung cảnh Tây Bắc thật hùng vĩ mà cũng thật trữ tình, làm ta thêm tự hào về núi sông Tổ quốc nguy nga, tráng lệ. Sông Đà quả là một quà tặng vô giá của thiên nhiên là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của bậc thầy tùy bút Nguyễn Tuân.

Một số đề liên hệ thường gặp:

Phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà

Tổng kết những nội dung cần ghi nhớ

Hình ảnh con sông Đà hung bạo ở thượng nguồn.

Sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người.

Hình ảnh sông Đà trữ tình ở hạ lưu.

Hình tượng sông Đà vừa mang nét hung bạo lại vừa trữ tình thơ mộng. Qua hình tượng sông Đà đã thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với thiên nhiên Tây Bắc: một tình yêu thiết tha thiên nhiên đất nước, lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông, một ngọn thác, một dòng chảy.

Chúc các em hoàn thành tốt và đạt điểm cao với bài làm văn của mình.

Bạn còn vấn đề gì băn khoăn?
Vui lòng cung cấp thêm thông tin để chúng tôi giúp bạn
Hủy

TẢI VỀ

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM