Đọc hiểu Đời thừa của Nam Cao

Đọc hiểu Đời thừa của Nam Cao với bài văn mẫu phân tích Đời thừa (Nam Cao) hay nhất giúp các em đọc hiểu và làm bài tốt hơn.

Để viết một bài văn phân tích Đời thừa của Nam Cao thì Đọc tài liệu xin gợi ý các em tham khảo nội dung tài liệu đọc hiểu như sau:

1. Kiến thức cần ghi nhớ: Đời thừa của Nam Cao

Về tác giả Nam Cao

(1915 – 1951) là một nhà văn lớn và tài năng của văn học Việt Nam, cuộc đời của ông điển hình cho cuộc đời của những trí thức tiểu tư sản những năm trước Cách mạng tháng Tám. Vật lộn với gánh nặng cơm áo để giữ mình và rồi được đến với cách mạng, cống hiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, sáng tác của Nam Cao chủ yếu thể hiện tấn bi kịch của con người bị tha hoá. Ông chú ý đến hai đối tượng rất gần gũi với cuộc đời ông là người nông dân và người trí thức nghèo.

Tác phẩm tiêu biểu học trong chương trình ngữ văn 11: Chí phèo

Về tác phẩm: Đời thừa thể hiện tấn bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản, nguyên nhân của tấn bi kịch ấy là gánh nặng cơm áo. Hộ đồng thời rơi vào hai tấn bi kịch : bi kịch của người nghệ sĩ phải đang tâm chà đạp lên nguyên tắc sáng tạo của nghệ thuật chân chính, bi kịch của người cha người chồng phải chà đạp lên nguyên tắc tình thương do chính mình đề ra. Qua bi kịch của nhà văn Hộ, Nam Cao thể hiện một tư tưởng nhân văn đẹp đẽ : tố cáo hiện thực, lên án sự tha hoá, cảm thông với những con người bất hạnh và khẳng định những quan điểm nghệ thuật chân chính.

Tóm tắt tác phẩm:

Hộ là một văn sĩ nghèo mang trong mình nhiều hoài bão ước mơ. Anh là người có lí tưởng sống rất cao đẹp. Là một nhà văn, anh đã từng ước mơ có những tác phẩm lớn, có giá trị vượt thời gian. Nhưng từ khi cứu vớt cuộc đời Từ, cưới Từ về làm vợ, anh phải lo cho cuộc sống của cả gia đình chỉ với những đồng tiền ít ỏi của nghề viết văn. Hộ đã rơi vào tình trạng khốn khổ. Tạm gác ước mơ hoài bão để nuôi gia đình, nhưng rồi nỗi lo cơm áo và những dằn vặt lương tâm của một nhà văn đã biến anh thành một người đàn ông vũ phu. Anh uống say rồi hành hạ, đánh đập vợ con, rồi lại ân hận. Hộ rơi vào cái vòng luẩn quẩn, không lối thoát.

II. Đọc hiểu Đời thừa của Nam Cao

1. “Đời thừa” có nghĩa là sống vô ích, sống vô tích sự, không có ý nghĩa gì cho cuộc đời. Với cả hai tư cách người trí thức và người chồng, nhà văn Hộ đều rơi vào bi kịch “đời thừa”.

Việc tự ý thức được tình trạng sống “thừa” của những người trí thức nghèo sáng tác của Nam Cao khiến họ rơi vào tấn bi kịch tinh thần vô cùng bi đát. Nhưng chính tấn bi kịch tinh thần ấy thể hiện khao khát sống có ích, sống có nghĩa có ích cho đời. Họ không muốn phải sống kiếp sống thừa, sống vô ích.

2. Mâu thuẫn không thể giải quyết được, cứ trở đi trở lại giằng xé nội tâm nhân vật là những mâu thuẫn:

+ Khát vọng sống có ích, có ý nghĩa, vẻ vang và trách nhiệm chăm lo cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn này là mâu thuẫn không thể giải quyết nên đã đẩy nhân vật vào bi kịch tinh thần. Càng cố gắng, Hộ càng chìm sâu hơn vào bi kịch. Là nhà văn có hoài bão, ước mơ, Hộ phải gác lại tất cả để kiếm tiền nuôi vợ con. Hy sinh sự nghiệp Hộ vẫn chẳng cứu được gia đình. Hộ viết những thứ văn rẻ tiền để bị dằn vặt để phải tự nguyền rủa mình nhưng vợ con anh vẫn nheo nhóc. Người đàn ông tốt bụng, cao thượng, người chồng người cha đầy trách nhiệm đã trở thành người chồng vũ phu.

+ Cái hay, cái đẹp và tình thương. Họ phải viết những trang viết rẻ tiền, nhạt nhẽo để kiếm tiền nuôi vợ con. Nên anh luôn bị dằn vặt. Luôn tự mắng chửi mình.

+ Lý tưởng và hiện thực. Hộ có nhiều mơ ước, có lý tưởng hoài bão đẹp nhưng thực tế cuộc sống khổ cực đã vùi dập, đè nén. Họ phải vật lộn với cuộc sống nghèo túng nên không thể thực hiện được những hoài bão cao đẹp. Họ từ dằn vặt mình khiến ngày càng chìm sâu vào bi kịch.

=> Là nhà văn, Hộ trở thành kẻ vô tích sự. Hoài bão tiêu tan, phải viết một cách vô trách nhiệm. Hộ viết rồi lại tự dằn vặt mình. Hộ là điển hình cho số phận những người trí thức tiểu tư sản nghèo trước cách mạng. Họ là những con người chân chính, có hoài bão, ước mơ, có nhân cách nhưng xã hội đã đối xử tàn nhẫn với những người trí thức ấy. Xã hội đã lưu manh hoá những con người có nhân cách ấy.

3. Nỗi đau của Hộ là nỗi đau của một người trí thức không được sống cho ra sống. Với cả hai tư cách nhà văn và một người cha, một người chồng, Hộ đều không hoàn thành được trách nhiệm của mình. Anh không thể toàn tâm toàn ý cho nghệ thuật cũng không thể hết mình với gia đình. Vì thế anh tự dằn vặt mình, tự trách mình là kẻ vô tích sự với cả nghệ thuật và gia đình. Anh không thể là một người nghệ sĩ chân chính sáng tạo được những tác phẩm như mong ước nhưng cũng chẳng thể là một con người sống đúng với nguyên tắc tình thương cao cả mà anh tôn thờ. Nỗi đau của Hộ là nỗi đau của con người tự nhận ra sự bất lực của mình mà không thể thoát ra được.

4. Nam Cao là nhà văn có biệt tài trong việc miêu tả tâm lí nhân vật. Trong đoạn 4, nhà văn tập trung miêu tả tâm trạng ăn năn hối hận của Họ khi tỉnh rượu. Trong lúc say, tinh thần bị ức chế, Hộ đã đánh đuổi vợ con. Khi tỉnh lại, Hộ lại tự dằn vặt, tự trách mình là thằng khốn nạn. Nhà văn đã miêu tả rất thành công tâm trạng này của nhân vật Hộ bằng cách kết hợp giọng kể gián tiếp với ngôn ngữ nửa trực tiếp. Độc thoại nội tâm của nhân vật lồng ghép với ngôn ngữ kể chuyện. Nhà văn hóa thân vào nhân vật để diễn tả những diễn biến tâm lí của Hộ. Hộ tỉnh rượu, cảm giác mệt mỏi, khát nước, nao nao lòng khi nhận ra sự ân càn của vợ, lờ mờ hiểu ra sự tình, hoảng sợ, nhìn dáng vẻ vất vả tội nghiệp của Từ, Hộ ăn năn và tự mắng mình. Hộ đã khóc và tự trách mình… Những sắc thái tình cảm của nhân vật đã được nhà văn thể hiện một cách tinh tế và sâu sắc.

5. Thời gian trần thuật của câu chuyện kéo dài trong khoảng một ngày: bắt đầu từ buổi sáng Hộ đọc sách rồi đi ra phố, uống say trở về đến buổi sáng hôm sau khi Hộ tỉnh rượu. Nhà văn đã sử dụng xen kẽ các đoạn hồi ức nên câu chuyện được kể kéo dài cả một quãng đời của Hộ. Điều đó đã làm nên tính hàm súc cho thiên truyện. Một truyện ngắn truyền tải được nội dung của cả một tiểu thuyết. Đây là một thành công của Nam Cao trong sáng tác truyện ngắn nhờ nhà văn biết cách kết hợp khéo léo các đoạn kể, hồi tưởng, độc thoại nội tâm.

6. Đời thừa là truyện ngắn có ý nghĩa tuyên ngôn nghệ thuật sáng tác của Nam Cao. Nhà văn đã gửi gắm quan niệm của mình về nhà văn, nghề văn, tác phẩm nghệ thuật qua nhân vật Hộ. Nhà văn phải có hoài bão ước mơ, phải viết được những tác phẩm có giá trị, “làm mờ các tác phẩm cùng thời”… Nhà văn phải có trách nhiệm với ngòi bút của mình, phải tự biết xấu hổ khi viết ra những thứ không phải là nghệ thuật.

II. Phân tích Đời thừa của Nam Cao

Dưới đây là một bài văn mẫu phân tích đời thừa của Nam Cao hay nhất mà Đọc tài liệu sưu tầm được.

Đời thừa là truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao viết về đề tài trí thức tiểu tư sản. Qua tác phẩm, nhà văn vừa phản ánh một cách sinh động, cụ thể hiện thực cuộc sống đương thời, vừa nêu lên những tư tưởng mang tính khái quát triết lí sâu sắc về nhân sinh.

Hộ vốn là một văn sĩ có niềm say mê văn chương, muốn sống có ích bằng văn chương. Nhưng vì miếng cơm manh áo và những lo lắng tủn mủn của cuộc sống đời thường mà anh không thực hiện được hoài bão lí tưởng của mình. Chính sự mâu thuẫn giữa lí tưởng và hiện thực cuộc sống đã làm nảy sinh tấn bi kịch tinh thần đau đớn ở Hộ. Bi kịch ấy thể hiện ngay trong nhan đề của tác phẩm. Đời thừa có nghĩa là sống vô ích, sống vô tích sự, không có ý nghĩa gì cho cuộc đời. Với cả hai tư cách người trí thức và người chồng, nhà văn Hộ đều rơi vào bi kịch “đời thừa”.

Là người trí thức, Hộ rơi vào bi kịch của con người có tài năng, có hoài bão, muốn sống có ích nhưng lại trở thành vô ích. Hoài bão của Hộ là hoài bão của một nhà văn chân chính. Anh là nhà văn yêu nghề, muốn cống hiến cả đời mình cho văn chương. Đối với Hộ, niềm say mê văn chương đã trở thành niềm say mê lí tưởng : “Đói rét không có nghĩa gì đối với gã trẻ tuổi say mê lí tưởng. Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn”, với Hộ, “nghệ thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không có gì đáng quan tâm nữa”. Còn hơn cả niềm say mê văn chương, Hộ muốn sống có ích bằng văn chương. Anh muốn cống hiến cho xã hội những tác phẩm văn chương có giá trị. Khác hẳn với nhiều văn sĩ lãng mạn với quan điểm sáng tạo “nghệ thuật vị nghệ thuật”, nghệ thuật mà Hộ theo đuổi là “nghệ thuật vị nhân sinh”. Với Hộ, tác phẩm có giá trị phải là “tác phẩm nói lên được nguyện vọng vừa đau đớn vừa mạnh mẽ, nó ca ngợi lòng yêu thương, tình bác ái, sự công bình, nó làm cho người gần người hơn”. Hộ khát khao trở thành nhà văn lớn giật giải Nô-ben về văn học. Đây không phải là sự háo danh của một kẻ tầm thường mà là biểu hiện của một nhà văn yêu nghề muốn sống có ích, có ý nghĩa với đời. Thế nhưng, như Xuân Diệu đã nói :

Nỗi đời cơ cực giơ nanh vuốt

Cơm áo không đùa với khách thơ.

(Xuân Diệu)

Từ ngày cứu vớt Từ, có gia đình vợ con, bao nhiêu gánh nặng đổ lên vai chàng văn sĩ nghèo đầy khát vọng nghệ thuật song cũng đầy tình yêu thương đối với con người. Và Hộ phải lo toan miếng cơm manh áo, gánh nặng cơm áo hàng ngày đã không cho Hộ cơ hội thể hiện tài năng, thực hiện hoài bão. Thật đau đớn xót xa khi anh trở thành đời thừa với tất cả.

Với tư cách là một nghệ sĩ, Hộ một nhà văn chân chính. Anh đã có những quan điểm rất đúng đắn về nghề văn, nhà văn và về văn chương tác phẩm. Những dằn vặt và suy ngẫm của nhà văn về nghề văn, về lao động nghệ thuật cũng chính là những suy nghĩ vô cùng tốt đẹp của Nam Cao về nghề văn. Vì thế, những đoạn miêu tả tâm lí của nhà văn Hộ khi anh nghĩ và nói về nghề văn là những đoạn rất thành công của tác phẩm. Đó là những đoạn sử dụng lời văn nửa trực tiếp như : “Rồi mỗi lần đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn kí tên mình, hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng […]. Khốn nạn ! Khốn nạn ! Khốn nạn thay cho hắn ! Bởi vì chính hắn là một thằng khốn nạn ! Hắn chính là một kẻ bất lương ! […] sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện […]. Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình”. Những suy nghĩ cay đắng của Hộ là tâm sự của nhiều nhà văn chân chính. Vì phải lo lắng miếng cơm manh áo, vì xã hội đối xử không công bằng với văn học nghệ thuật buộc họ phải làm điều họ không muốn. Hộ hiểu và nhận ra quá rõ sự bất lực của mình nên anh rơi vào tâm trạng bi kịch.

Là người nghệ sĩ có quan điểm nghệ thuật rất chân chính nhưng Hộ lại là đời thừa với xã hội vì những tác phẩm của anh đời không cần đến, những tác phẩm viết vội vàng cẩu thả nên chỉ gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn đạt vài ý thông thường, khuấy loãng trong thứ văn quá ư bằng phẳng. Những tác phẩm ấy chẳng mang đến điều gì mới lạ cho văn chương.

Hộ là đời thừa với gia đình vì anh chẳng những không giúp được gì cho gia đình. Anh những tưởng hi sinh nghệ thuật chân chính một vài năm để kiếm tiền nuôi vợ con và kiếm cho Từ một số vốn kha khá làm ăn nhưng rồi những tác phẩm rẻ tiền ấy không giúp anh nuôi nổi vợ con. Cuối cùng vợ con anh vẫn đói khổ nheo nhóc và anh trở thành vô tích sự với gia đình.

Hộ còn là đời thừa với chính bản thân mình. Anh chẳng những không thực hiện được hoài bão của bản thân mà còn để rơi cả tài năng nhân cách. Còn gì đau đớn hơn là một nhà văn mà ngay cái tên của mình cũng rơi vào sự thờ ơ quên lãng của người đọc ? Những bài báo viết vội vàng cẩu thả đã khiến người ta quên ngay sau khi đọc. Nhận thức được sự cẩu thả trong văn chương là điều đê tiện nhưng anh vẫn cứ phải làm và điều đó làm anh đau đớn. Tài năng, nhân cách của anh đã phải cúi đầu nhục nhã trước những cái tầm thường, vặt vãnh trong cuộc sống.

Hộ rơi vào bi kịch thứ hai không kém phần xót xa đau đớn, đó là bi kịch của con người vốn có nhân cách, muốn sống có tình thương nhưng cuối cùng lại chà đạp một cách thô bạo lên chính nguyên tắc thiêng liêng cao đẹp ấy. Chính anh đã dang tay cứu vớt cuộc đời Từ. Anh lo toan mọi công việc gia đình. Anh đã sẵn sàng gác lại những ước mơ nghệ thuật cao đẹp để sống có tình thương. Tình thương chính là tiêu chuẩn để phân biệt con người và dã thú. Hộ phản đối triết lí sống “phải biết ác để sống cho mạnh mẽ”, với anh, “kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn lòng ích kỉ, kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình”.

Thế nhưng Hộ vi phạm nguyên tắc mà anh theo đuổi. Với tư cách là một người đàn ông, người chồng, anh chà đạp lên nguyên tắc tình thương. Anh để mình ngày càng lún sâu vào con đường tha hoá. Anh tìm quên trong rượu chè, nhưng cơn say không giúp anh thoát khỏi sự bế tắc. Hộ đã không chỉ không thực hiện được trách nhiệm của người nghệ sĩ chân chính mà còn trở thành một người đàn ông vũ phu. Trở về nhà trong cơn say, những cơn ức chế thần kinh đã khiến anh dang tay đánh vợ. Con người khi tha hoá mà không nhận ra mình tha hoá thì đau ít. Khi còn nhận ra mình bị hư hỏng thì người ta sẽ rơi vào bi kịch. Những nhân vật của Nam Cao thường rơi vào tấn bi kịch tinh thần ấy. Biết mình bị tha hoá mà không tự cứu mình được. Hộ hành động vũ phu với vợ trong cơn say để khi tỉnh rượu lại tự dày vò mình và chửi mình là một thằng khốn nạn. Hộ đã phải chịu đựng cùng một lúc hai bi kịch đớn đau, bi kịch của người nghệ sĩ không thực hiện được mơ ước và bi kịch của một người cha, người chồng không thể thực hiện được nghĩa vụ với gia đình.

Qua nhân vật Hộ và nhiều nhân vật trí thức khác, Nam Cao đã thể hiện tư tưởng nhân đạo của mình. Nhà văn lên án chế độ xã hội đã huỷ hoại nhân cách con người. Tâm sự của Hộ, của Thứ, của Điền cũng là tâm sự của những nghệ sĩ chân chính của mọi thời đại. Mâu thuẫn giữa cơm áo gạo tiền và những lí tưởng nghệ thuật cao cả là mâu thuẫn luôn tồn tại trong lao động nghệ thuật. Qua Hộ, nhà văn đã thể hiện sự tin tưởng của mình đối với những nhà văn chân chính. Vẫn nhận ra sai trái của mình con người sẽ biết sửa chữa. Và những nhà văn như Hộ sẽ vượt lên được mình để giữ gìn nhân cách. Anh sẽ viết được những tác phẩm như anh mong muốn, sẽ có trách nhiệm với gia đình và sẽ vẫn là một người tốt bởi bản chất anh không phải là kẻ xấu. Anh là người có nhân cách.

Hộ là điển hình cho bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Nghệ thuật điển hình hóa đã đạt đến đỉnh cao trong sáng tác của Nam Cao. Những giằng xé trong Hộ, Điền, Thứ cũng là những giằng xé trong mỗi người nghệ sĩ khi họ muốn vượt lên những lo toan đời thường để cống hiến và sống hết mình với nghệ thuật. Vì vậy, giá trị nhân văn cao cả trong sáng tác của Nam Cao cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Không chỉ là tấn bi kịch của một người chân chính, truyện ngắn Đời thừa còn là nơi nhà văn gửi gắm những quan niệm đúng đắn về nghề văn, nhà văn và về nghệ thuật đích thực.

Nguồn: Nguyễn Hoành Khung, Giảng văn Văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, 1997.

Phân tích nhân vật Hộ

Qua nhân vật Hộ, Nam Cao đã thể hiện ngòi bút hiện thực vừa tỉnh táo, sắc lạnh, vừa nặng trĩu suy nghĩ và đằm thắm yêu thương. Nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật qua dòng độc thoại, qua tiếng khóc của Hộ và Từ làm cho người đọc vô cùng thấm thía về bi kịch của một trí thức nghèo, của một nhà văn nghèo trong xã hội cũ. Cùng ghi nhớ một số nét để phân tích nhân vật Hộ em nhé:

a. Một con người giàu tình thương

- Hộ đã hành động một cách cao đẹp là nuôi Từ, nuôi mẹ già, con dại cho Từ. Lúc mẹ Từ qua đời, Hộ đã đứng ra làm ma, rất chu đáo. Hộ nhận Từ làm vợ, nhận làm bố cho đứa con thơ... Như một nghĩa cử cao đẹp, Hộ đã cứu vớt mẹ con Từ. Biết bao nhiêu là ân nghĩa. Hộ sống vì tình thương vì sự bao dung chở che, như anh quan niệm: Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình.

- Hộ là một người chồng thật sự yêu thương vợ con. Anh tính chuyện Phí đi một vài năm để kiếm tiền lo cho Từ một cái vốn làm ăn. Những lúc Từ ốm, Hộ lo xanh mặt và thức suốt đêm. Chỉ xa các con vài ngày, lúc gặp lại chúng, Hộ cảm động đến ứa nước mắt, hôn hít chúng vồ vập. Có lúc từ mồng mười đến cuối tháng, Hộ không dám bước chân ra khỏi nhà để bớt chi tiêu, hắn thương vợ con có bữa phải nhịn cơm ăn cháo, sắp nhận được tiền nhuận bút, Hộ thương đau con thơ cả tháng đói khát khổ sở, hôm nay có tiền cũng nên cho chúng nó một bữa ăn ra hồn.

- Hộ là một nhà văn nhân đạo chủ nghĩa. Với Hộ thì trang văn là cuộc đời, thấm tình đời phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn. Đó là một quan niệm rất tiến bộ, quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh. Nhà văn phải vì con người, vì hạnh phúc của con người. Qua đó, ta thấy, là con người xã hội, là nhà văn, là người chồng người cha, trong con người và tâm hồn Hộ đều tỏa sáng một tình nhân ái bao la. Anh đã sống và hành động, vun đắp cho hạnh phúc của con người.

b. Một nhà văn trải qua một bi kịch tinh thần đau đớn, dai dẳng.

- Hộ có tài, lúc đầu, anh viết rất thận trọng. Mang một hoài bão lớn, anh băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời. Từ khi phải lo kiếm tiền nuôi vợ con, Hộ cho in nhiều cuốn văn viết vội, anh xấu hổ khi đọc lại văn mình, tự xỉ vả mình là một thằng khốn nạn, là một kẻ bất lương! Trước kia tin tường bao nhiêu thì nay đau đớn thất vọng bấy nhiêu. Hắn rũ buồn, lắc đầu tự bảo: Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi!

- Văn chương đối với Hộ như là một cái nghiệp. Nợ áo cơm ghì sát đất, nhưng anh vẫn mê văn. Hộ nói, đọc được một câu văn hay mà hiểu được thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng. Hộ điên người lên vì phải xoay tiền nhưng hắn bảo khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi.

- Mất dần cuộc đời hồn nhiên trong sáng, có lúc chan chứa nước mắt, mặt hầm hầm. Hắn đọc sách mà trông cũng dữ tợn: đôi lông mày rậm... châu đầu lại với nhau... cái mặt hốc hác...

- Hộ đã tìm đến rượu để giải sầu, càng ngày hắn càng lún sâu vào bi kịch, say rượu và đối xử vũ phu với vợ con. Vốn rất yêu vợ con nhưng có hôm say rượu hắn gườm gườm đôi mắt, đòi vật một nhát cho chết cả. Tỉnh rượu lại bẽn lẽn xin lỗi Từ hứa chừa rượu, được một thời gian ngắn, lại say, lại đánh vợ, làm những trò vừa buồn cười, vừa đáng sợ như lần trước. Trở thành bê tha hắn đã ngủ một nửa ngày từ khi còn ở dọc đường, về đến nhà thì đổ xuống giường như một khúc gỗ... ngủ say như chết! Có điều lạ, Hộ rất tỉnh khi anh bàn luận văn chương, rất biết điều và ân hận thực sự lúc tỉnh rượu. Hắn nhìn Từ xanh xao mà thương hại, nắm lấy tay Từ mà khóc, nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc... Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở... Rồi hắn tự lên án mình chỉ là... một thằng... khốn nạn!

Và câu hát ru còn thấm lệ của Từ như tô đậm thêm bi kịch của Hộ, của hai vợ chồng. Nỗi đau ấy được cực tả qua câu hát cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thương. Tiếng khóc của Hộ, tiếng khóc của Từ mang ý nghĩa tố cáo cái xã hội tàn ác đã cướp đi mọi mơ ước, đã đày đọa cuộc sống của mỗi gia đình, đã đầu độc tâm hồn con người và làm méo mó mối quan hệ vốn tốt đẹp giữa người và người.

Như vậy, bài văn phân tích nhân vật Hộ cần phân tích rõ hai luận điểm trên em nhé!

Phân tích nhân vật Từ

Nhật vật Từ tuy chỉ được tác giả Nam Cao dùng khá ít lời văn để miêu tả và thể hiện tâm hồn của nhân vật nhưng lại là một nét vẽ sâu sắc khiến người đọc khó quên. Để phân tích nhân vật Từ, các em cần lưu ý:

- Ngoại hình: Nam Cao rất ít tả ngoại hình của nhân vật Từ. Phần cuối truyện, chỉ có một vài nét vẽ, tác giả tả Từ - một người đàn bà bạc mệnh: Da mặt xanh nhợt, môi nhợt nhạt, mi mắt hơi tim tím, mắt có quầng, má hơi hóp lại... Cái bàn tay lủng củng rặt những xương, cổ tay mỏng mảnh. Làn da mỏng, xanh trong, xanh lọc... Đó là hình ảnh một thiếu phụ nhiều lo lắng, thiếu về mặt vật chất. Vẻ đẹp thời con gái đã tàn phai.

- Lỡ làng vì bị tình phụ. Cảnh Từ ôm con sau ngày đẻ, nhịn đói, mẹ già bị mù, cả mẹ lẫn con chỉ có một cách là khóc cho, đến khi nào bao nhiêu thịt đểu chảy ra thành nước mắt hết, để rồi cùng chết cả.

- Từ là hội tụ bao đức tính tốt đẹp của người vợ yêu chồng, người mẹ thương con. Dịu dàng, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh. Từ hiểu rằng Hộ khổ là vì Từ. Từ chén nước đến cử chỉ lời nói, chị đã dành cho Hộ bao tình thương yêu. Bị Hộ say rượu hắt hủi, đánh đuổi, nhưng Từ vẫn yêu chồng, không thể ôm con bỏ đi được, vì ngoài tình yêu, Hộ còn là ân nhân của chị. Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu rất gần với tình của một con chó đối với người nuôi.

- Phần cuối truyện, Từ ôm lấy cổ chồng nói: "... Không!... Anh chỉ là một người khổ sở... Chính vì em mà anh khổ...”. Nàng ru con qua dòng nước mắt... cho thấy Từ là một người bạc mệnh, nhưng bản tính rất dịu dàng, giàu đức hi sinh.

- Nam Cao với trái tim nhân đạo đã miêu tả sâu sắc tâm hồn nhân hậu của Từ, cảm thông với nỗi đau của Từ, của bao người phụ nữ bạc mệnh và đau khổ trong xã hội cũ. Tiếng ru con của Từ là tiếng thương, là nỗi đau buồn về cuộc đời bi kịch của người phụ nữ: sống trong tình yêu mà ít có hạnh phúc!

Nguồn: (Sưu tầm)

Trên đây là tất cả nội dung đọc hiểu Đời thừa của Nam Cao với bài văn mẫu phân tích Đời thừa (Nam Cao) hay nhất cùng gợi ý về 2 nhân vật Hộ và Từ giúp các em đọc hiểu và làm bài phân tích Đời thừa tốt hơn. Đừng quên còn rất nhiều tài liệu văn mẫu 11 đang đợi các em khám phá nhé!

Huyền Chu (Tổng hợp)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

X