Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt năm 2019 - Đề số 2

Bộ đề thi học kì 1 lớp 4 môn Toán năm học 2019 - 2020 đề số 2 kèm đáp án và hướng dẫn giải chi tiết từng câu là tài liệu hữu ích để học sinh ôn bài tại nhà.

Nhằm giúp các em chuẩn bị cho bài thi cuối kì sắp tới đồng thời giúp các bậc phụ huynh có thêm tài liệu hữu ích để dạy và học cùng con ở nhà, Đọc tài liệu đã sưu tầm và tổng hợp đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt năm 2019 đề số 2 kèm đáp án và hướng dẫn giải chi tiết. Mời các em cùng phụ huynh tham khảo.

Đề thi môn Tiếng Việt lớp 4 học kỳ 1 năm học 2019-2020 - Đề số 2

Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt - Đề số 2

I. CHÍNH TẢ: (Nghe đọc) Thời gian: 20 phút

Bài “Người ăn xin” – Viết đầu bài và đoạn “Lúc ấy …….. cứu giúp”

(Sách Tiếng Việt 4 tập 1, trang 30)

II. TẬP LÀM VĂN

Đề bài: Em hãy kể lại một câu chuyện mà em biết về một đức tính tốt của con người.

Bài đọc:

 Cậu học sinh giỏi nhất lớp

Gia đình ông Giô - dép lại chuyển về Ác - boa để Lu – i có thể tiếp tục đi học.

Ác – boa là một thị trấn nhỏ, không có lâu đài đồ sộ, nguy nga, chỉ thấy những ngôi nhà nhỏ bé, cổ kính và những vườn nho con con. Dòng sông Quy – dăng – xơ hiền hòa lượn quanh thành phố, với những chiếc cầu trắng phau.

Ông bố dắt con đến gặp thầy giáo để xin học. Thầy cứ lắc đầu chê Lu - i còn bé quá. Thầy Rơ – nê đã già, mái tóc ngả màu xám, da nhăn nheo, người hơi gầy và cao. Thầy hỏi:

- Cháu tên là gì? 

Ông Giô – dép không đáp, liếc mắt nhìn Lu-i, có ý bảo Lu – i trả lời.

- Thưa thầy con là Lu – i Pa - xtơ ạ! 

- Đã muốn học chưa hay còn thích chơi?

- Thưa thầy con thích đi học ạ! 

Thầy giáo gật gù ra vẻ bằng lòng.
 
- Thế thì được. 

Từ nhà đến trường không xa lắm, nhưng với tầm mắt của tuổi nhỏ, đó là cả một đoạn đường thơ mộng, có nhửng chặng nghỉ và những trò chơi thú vị. Dưới một gốc cây to ở vệ đường, cỏ đã truị đi vì những ván bi quyết liệt. Cái bãi gần đường vào thị trấn là nơi diễn ra những “pha”bóng chớp nhoáng, đầy hứng thú và say mê. Còn dưới chân cầu kia, đó là nơi Lu - i thường rủ Giuyn Vec – xen, người bạn thân nhất của mình, đến đó câu cá.

Còn việc học hành của Lu – i thì khỏi phải nói! Gia đình và thầy giáo rất hài lòng. Thầy khen một cách thành thực về sự chăm chỉ và kết quả học tập của cậu. Cậu là học sinh giỏi nhất lớp.

Theo Đức Hòa 

Trích “Lu- i Pa- xtơ” 

II. ĐỌC THẦM: 25 phút (5 điểm )
 
Em đọc thầm bài “Cậu học sinh giỏi nhất lớp” rồi trả lời các câu hỏi sau: 

(Đánh dấu vào trước câu trả lời đúng nhất)

Câu 1. Những chi tiết nào cho biết Lu - i Pa - xtơ khi đến trường hãy còn rất bé?

a. Thầy giáo lúc đầu chê Lu - i còn bé quá.
 
b. Thấy giáo hỏi: “Đã muốn đi học chưa hay còn thích chơi?”

c. Cả hai ý a và b.

d. Các ý trên đều sai. 
    
Câu 2. Ngoài giờ học Lu - i thường tham gia những trò chơi nào?

a. Bắn bi.

b. Đá bóng.

c. Câu cá.

d. Tất cả các ý trên.

Câu 3. Những từ ngữ nào cho biết Lu – i tham gia các trò chơi rất say mê ?

a. Ván bi quyết liệt.

b. “Pha” bóng chớp nhoáng, đầy hứng thú và say mê.

c. Cả hai ý a và b.

d. Các ý trên đều sai.

Câu 4. Kết quả học tập của Lu- i ra sao?

a. Lu- i Pa- xtơ là một học sinh giỏi nhất lớp.

b. Chưa cao vì Lu- i Pa- xtơ còn bé.

c. Thầy giáo chưa hài lòng. 

d. Không theo kịp các bạn trong lớp.

Câu 5: Tiếng ông gồm những bộ phận cấu tạo nào?

a. Chỉ có vần.

b. Chỉ có vần và thanh.

c. Chỉ có âm đầu và vần.

d. Có âm đầu, vần và thanh.

Câu 6: Cho câu: 

Thầy giáo gật gù ra vẻ bằng lòng:

- Thế thì được. 

Dấu hai chấm trong câu trên có tác dụng: 
 
Câu 7: Cho câu: Gia đình và thầy giáo rất hài lòng.

Các từ ghép có trong câu trên: ...........................
 
Câu 8: Từ nào có thể thay thế cho từ “thành thực”?

a. Trung thành 

b. Chân thành

c. Trung thực 

d. Trung hậu 

Đáp án đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt đề số 2

ĐỌC THẦM: (5 điểm)

Câu 1. (0,5 điểm)  c.  

Câu 2. (0,5 điểm)  d.  

Câu 3. (0,5 điểm)  c.  

Câu 4. (0,5 điểm)  a.

Câu 5. (0,5 điểm)  b. 
 
Câu 6. (1điểm) Dấu hai chấm trong câu trên có tác dụng dẫn lời nói của nhân vật.
 
Câu 7. (1 điểm)Các từ ghép có trong câu trên: Gia đình, thầy giáo, hài lòng.

Câu 8. (0,5 điểm)  c  

TẬP LÀM VĂN : (5 điểm)

1. YÊU CẦU:

a. Thể loại: Kể chuyện

b. Nội dung:

-  Học sinh biết kể chuyện theo trình tự hợp lí, đúng nội dung. Câu văn gãy gọn, biết vận dụng kiến thức để trao đổi thông tin.

-  Lời lẽ tự nhiên.

c.  Hình thức :

-  Bài viết gồm 3 phần: Mở bài, thân bài và kết bài.

-  Dùng từ chính xác, viết câu đúng ngữ pháp, đúng chính tả.

- Diễn đạt lưu loát, có sự liên kết giữa các sự việc.

Bài văn mẫu:

Tuần trước, trường em phát động phong trào thi đua học tập và làm theo Năm điều Bác Hồ dạy. Em đã làm được một việc tốt là nhặt được của rơi, trả lại cho người đánh mất.

Trưa thứ năm, trên đường đi học về, qua quãng đường vắng, em nhìn thấy một túi xách nhỏ màu đen nằm ngay giữa đường. Em nhặt lên rồi vừa đi chầm chậm, vừa đưa mắt tìm kiếm chủ nhân của nó..

Một lúc lâu sau, vẫn không thấy ai. Em đoán người đánh rơi chiếc túi đã đi xa hoặc không biết là mình đánh rơi. Mà nếu biết, chắc giờ này họ đang loay hoay tìm trên những đoạn đường đã qua. Người ấy là ai nhỉ? Một bác cán bộ hay một chú công nhân, một anh bộ đội? Trong chiếc túi ấy đựng những gì? Thế nào lại chẳng có tài liệu, giấy tờ hay tiền bạc? Bao câu hỏi cứ dồn dập hiện lên trong óc em. Em đưa mắt nhìn quanh lần nữa. Những người chạy xe máy hay xe đạp trên đường không một ai chú ý tới em đang ngơ ngác với chiếc cặp trên vai và chiếc túi lạ trên tay.

Em nghĩ ngợi, phân vân mãi: Trả hay không trả? Nếu mình không trả, có ai biết đâu mà trách? Có tiền, mình sẽ mua truyện tranh này, mua áo quần mới này và mua những đồ chơi mà mình ao ước từ lâu. Tưởng tượng đến lúc ấy, em thích lắm, bước chân như nhanh hơn, nhẹ nhàng hơn. Bỗng dưng, tiếng thầy Hiệu trưởng trong buổi lễ phát động như văng vẳng đâu đây: "Các em hãy ghi nhớ Năm điều Bác Hồ dạy, cố gắng học tập tốt, tu dưỡng tốt để trở thành con ngoan, trò giỏi...".

Không! Không nên tham của người khác! Phải trả lại thôi!

Chủ nhân chiếc túi xách này sẽ mừng biết bao nếu tìm lại được nó. Nhưng biết ai là người đánh rơi mà trả? Tốt nhất là đem nộp cho các chú công an.

Giữa trưa, trụ sở công an phường vắng vẻ, chỉ có một chú trực ban. Thấy em ngập ngừng ở cửa, chú vồn vã hỏi:

- Có chuyện chi đó cháu?

- Dạ thưa chú, cháu nhặt được cái túi xách này. Cháu đem nộp, nhờ chú trả lại cho người mất ạ!

Đỡ chiếc túi từ tay em, chú tươi cười xoa đầu em rồi bảo:

- Cháu ngoan lắm, không tham của rơi! Chú cháu mình xem trong này có những gì để còn ghi vào biên bản nhé !

Rồi chú lấy ra một xấp giấy tờ chủ quyền nhà, chủ quyền xe và hơn hai triệu tiền mặt. Chú ghi rõ từng thứ vào biên bản rồi yêu cầu em ghi tên và địa chỉ xuống phía dưới.

Sáng thứ hai tuần sau, em được thầy Hiệu trưởng và cô Tổng phụ trách Đội tuyên dương trong tiết chào cờ. Tiếng vỗ tay nồng nhiệt của toàn trường khiến em vô cùng xúc động. Buổi tối, gia đình em tiếp một người khách lạ.

Đó chính là chủ nhân của chiếc túi. Bác cảm ơn em mãi và tặng em một trăm ngàn để mua sách vở hoặc đồ chơi nhưng em nhẹ nhàng từ chối.

Ba mẹ em rất mừng vì em biết làm điều tốt. Lời khen chân thành của mọi người đối với em là phần thưởng quý giá nhất. Nhớ lại chuyện ấy, giờ đây em vẫn thấy vui.

Xem thêm:

*********************

Trên đây là đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt đề số 2 có hướng dẫn giải chi tiết từng câu, hy vọng đây sẽ là tài liệu học tập và ôn luyện hữu ích cho các em, đồng thời giúp ích cho các bậc phụ huynh trong quá trình học tập cùng các em. Đừng quên truy cập doctailieu.com để xem thêm nhiều đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt khác được Đọc tài liệu cập nhật liên tục nhé! Chúc các em luôn học tốt và đạt kết quả cao!

doctailieu.com
Tải về
Back to top