Đáp án đề thi Văn vào lớp 10 tỉnh Yên Bái 2018

Cập nhật đề thi và đáp án tham khảo môn Văn vào lớp 10 tỉnh Yên Bái năm học 2018.

Đáp án đề thi Văn vào lớp 10 tỉnh Yên Bái 2018

Đề thi

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

YÊN BÁI

ĐỀ CHÍNH THỨC

KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT

Ngày thi: 05/6/2018

Môn thi: NGỮ VĂN (THPT)

Thời gian làm bài 120 phút 

Câu 1. (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:

"Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”.

Xa đến đâu mặc kệ, nhưng tôi thích ngắm mắt tôi trong gương. Nó dài dài, màu nâu, hay nheo lại như chói nắng.”

a. Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai?

b. Xác định thành phần biệt lập trong câu văn: “Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá.”

c. Chỉ ra 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn trên. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 2. (2,0 điểm)

Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến sau: Mọi người sẽ tin cậy ta nếu ta chân thành công nhận khuyết điểm. 

Câu 3. (5,0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng.

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc.

đủ cho ta giật mình."

 

(Ánh trăng – Nguyễn Duy)

---Hết---

Đáp án tham khảo

Câu 1. 

a. Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm "Những ngôi sao xa xôi" của tác giả Lê Minh Khuê. 

b. Thành phần biệt lập tình thái: "Nói một cách khiêm tốn"

c. Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn trên: so sánh ("một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn")

Tác dụng: khắc họa vẻ đẹp cái cổ của Phương Định, qua đó khẳng định vẻ đẹp thanh lịch, trong sáng, hồn nhiên, mơ mộng của cô gái gốc Hà thành.

Câu 2: Mọi người sẽ tin cậy ta nếu ta chân thành công nhận khuyết điểm. 

Để phân tích ý kiến này bạn cần hiểu được:

- Tin cậy là sự tin tưởng của ai đó và nó được hình thành thông qua các mối quan hệ.

- Khuyết điểm là điều thiếu sót, điều sai trong hành động, suy nghĩ hoặc tư cách.

Như vậy, biết nhận khuyến điểm là bạn tự nhận ra được chính khuyết điểm của bản thân mình mà công nhận nó.

Qua đó nhận định ý kiến trên thành đoạn văn. 

Có thể tham khảo dàn ý chi tiết sau đây:

1. Nêu vấn đề.

2.Giải thích vấn đề.

- Khái niệm về chân thành: rất thành thật, xuất phát từ đáy lòng.

- Khái niệm về khuyết điểm: điều thiếu sót, điều sai trong suy nghĩ, hành động hoặc tự cách.

- Chân thành nhận khuyết điểm là nhận lỗi sai một cách thành thực, không che giấu, không ngụy tạo.

- “Mọi người sẽ tin cậy ta nếu ta chân thành công nhận khuyết điểm”: Khi ta biết mình sai và nhận lỗi thành thực, mọi người sẽ tin tưởng ta hơn.

3. Bàn luận vấn đề

- Lí giải vì sao khi ta chân thành nhận khuyết điểm, mọi người lại tin tưởng ta hơn?

+ Khi chân thành nhận khuyết điểm có nghĩa là ta dũng cảm đối diện với những sai lầm, những thất bại của chính mình. Một con người dũng cảm như vậy đáng được tin cậy và quý trọng.

+ Khi ta chân thành nhận khuyết điểm cũng là thể hiện mình là con người sống có trách nhiệm với bản thân, với mọi người và cộng đồng.

+ Khi ta chân thành nhận khuyết điểm, đó là biểu hiện của sự cầu tiến, học hỏi, điều đó quả thật là đáng quý.

- Phê phán những người không biết nhận sai hoặc độc đoán, luôn cho mình là đúng.

- Liên hệ bản thân: Em có phải người biết chân thành nhận lỗi của mình? Hãy chia sẻ một vài câu chuyện của bản thân?

Câu 3: Có thể tham khảo dàn bài gợi ý sau đây:

1. Mở bài

– Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Duy, nhà thơ quân đội, đã được giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ 1972 – 1973, một gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước.

– Tập thơ Ánh Trăng của ông được tặng giải A của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1984. Trong đó, có bài thơ mà tựa đề dùng làm nhan đề cho cả tập thơ: Ánh Trăng. Bài thơ là một câu chuyện riêng nhưng có ý nghĩa triết lý như một lời tự nhắc nhỏ thấm thía của nhà thơ đối với quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước và đồng đội.

2. Thân bài: Phân tích hai khổ thơ cuối

Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cài gì rưng rưng
Như là đồng là bể
Như là sông là rừng.

- Vầng trăng trở thành một biểu tượng gợi lại quá khứ tình nghĩa giữa con người và trăng, con người và thiên nhiên trong tư thế mặt người nhìn mặt trăng.

- Trong phút giây mặt đối mặt, lòng nhân vật trữ tình tràn ngập hình ảnh của quá khứ tình nghĩa thuở sống ở ruộng đồng, sông ngòi và rừng bể…

- Điệp từ “mặt”, lối chuyển nghĩa độc đáo:

+ Diễn tả giây phút soi chiếu, giao hòa giữa con người và vầng trăng.

+ Soi vào trăng để con người nhận ra mình và nhận ra cả sự đổi thay của mình.

- “Rưng rưng”: là những cảm xúc đang ùa về trong giây phút con người nhận ra vầng trăng tri kỉ của đời mình -> để rồi thức tỉnh.

- “Đồng, bể, sông, rừng”:

 + Xóa đi thời gian, không gian, đưa con người về quá khứ.

 + Kéo trăng và người xích lại gần nhau.

 + Để trăng vẫn vẹn nguyên là tri kỉ.

 + Để con người nhận ra sự nông cạn, thờ ơ, bạc bẽo của chính mình.

* Càng thức tỉnh sâu sắc hơn khi:

 - “Trăng”:

+ "tròn vành vạnh”: ẩn dụ cho nghĩa tình không bao giờ thay đổi, không bao giờ vơi cạn của nhân dân, đất nước.

+ “im phăng phắc”: bao dung, độ lượng và nghiêm khắc => cái im lặng chứa đựng lời nhắc nhở, cảnh báo, thức tỉnh con người.

- Người “giật mình” => thức tỉnh:

+ Nhận ra những cám dỗ vật chất khiến con người đánh mất đi những giá trị tinh thần đẹp đẽ, khiến tâm hồn họ trống rỗng, nghèo nàn.

+ Nhận ra không được lãng quên quá khứ, không được thờ ơ, bội bạc với nghĩa tình sâu nặng, thiêng liêng.

+ Biết trở về nâng niu, trân trọng quá khứ, biết sống ân nghĩa, thủy chung. ->Với khoảnh khắc giật mình, nhà thơ đã gieo vào lòng người đọc niềm tin và sức sống mãnh liệt của lương tri con người.

– Hai khổ thơ có sự kết hợp hài hòa, tự nhiên giữa tự sự và trữ tình. Giọng điệu thơ tâm tình của thể thơ năm chữ được thể hiện với một nhịp thơ đặc biệt: khi thì trôi chảy tự nhiên nhịp nhàng theo lời kể, khi ngân nga thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng suy tư.

3. Kết bài

- Nội dung:

 + Lời nhắn gửi con người không được lãng quên quá khứ gian khổ mà sâu đậm nghĩa tình.

 + Lời nhắc nhở về nghĩa tình thiêng liêng của nhân dân, đất nước và đạo lý uống nước nhớ nguồn.

- Nghệ thuật:

 + Thể thơ ngũ ngôn với nhiều sáng tạo độc đáo.

 + Sự kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và trữ tình.

 + Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, gần gũi mà giàu sức gợi.

 + Giọng điệu tâm tình thấm thía, khi thì thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng, suy tư.

 

Tham khảo bài văn mẫu: Phân tích hai khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Nếu không tự động cập nhật được đáp án, các em xem tại đây:

https://doctailieu.com/dap-an-de-thi-van-vao-lop-10-yen-bai-2018

 

Back to top