Cảm nhận bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Xuất bản ngày 20/03/2020 - Tác giả: - Tham vấn bởi:

Cảm nhận bài thơ Sóng, hướng dẫn làm bài chi tiết và văn mẫu tham khảo cảm nhận Sóng của Xuân Quỳnh, tài liệu hữu ích trong quá trình học và ôn tập Văn 12.

Tài liệu hướng dẫn viết bài cảm nhận về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh do Đọc Tài Liệu biên soạn gồm hướng dẫn làm bài chi tiết cùng một số mẫu bài văn hay của học sinh phân tích tác phẩm Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh. Mời các em cùng tham khảo!

Cảm nhận bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh

Hướng dẫn làm bài cảm nhận về bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

1. Phân tích đề

- Yêu cầu đề bài: Cảm nhận các chi tiết, hình ảnh, nội dung, nghệ thuật của tác phẩm để thấy được tình cảm và suy nghĩ tác giả gửi gắm trong bài thơ

- Đối tượng làm bài: Bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh.

2.Luận điểm chính bài thơ Sóng cần triển khai

Luận điểm 1: Bài thơ “Sóng” thể hiện quan niệm về tình yêu rất mới mẻ và hiện đại của nữ sĩ Xuân Quỳnh

Luận điểm 2: Bài thơ “Sóng” thể hiện vẻ đẹp tình yêu mang đậm tính truyền thống

Luận điểm 3: Khát vọng tình yêu vĩnh cửu thể hiện qua bài thơ.

3. Lập dàn ý cảm nhận bài thơ Sóng

a) Mở bài

- Giới thiệu khái quát về tác giả Xuân Quỳnh và bài thơ Sóng

b) Thân bài

* Bài thơ “Sóng” thể hiện quan niệm về tình yêu rất mới mẻ và hiện đại của nữ sĩ Xuân Quỳnh

- Trước hết nhà thơ đã tái hiện thành công những trạng thái đối cực trong sự mâu thuẫn của tình yêu qua hình tượng sóng: “Dữ dội và dịu êm - Ồn ào và lặng lẽ”

- Khắc họa một tình yêu vượt qua mọi giới hạn, chiều kích để vươn tới giá trị đích thực, trường tồn: “Sông không hiểu nổi mình - Sóng tìm ra tận bể”.

- Khát vọng vĩnh cửu hóa tình yêu đôi lứa thông qua việc hóa thân vào những ngọn sóng ngoài khơi xa.

* Bài thơ “Sóng” thể hiện vẻ đẹp tình yêu mang đậm tính truyền thống

- Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh gắn liền với nỗi nhớ luôn thường trực trong tiềm thức: “Lòng em nhớ đến anh - Cả trong mơ còn thức”

- Tình yêu đối với Xuân Quỳnh luôn gắn liền với sự thủy chung son sắt: “Nơi nào em cũng nghĩ - Hướng về anh một phương”.

* Khát vọng tình yêu vĩnh cửu thể hiện qua bài thơ

- Khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “con nào chẳng tới bờ... Dù muôn vời cách trở”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.

- Vượt lên sự lo âu, phấp phỏng, đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.

- Sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.

- Khát khao của người phụ nữ được sống trong “biển lớn tình yêu” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.

c) Kết bài

- Khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Tham khảo:

4. Sơ đồ tư duy cảm nhận bài Sóng

Sơ đồ tư duy cảm nhận bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh

Xem thêmSơ đồ tư duy bài Sóng của Xuân Quỳnh

5. Kiến thức bổ sung

- Phong cách sáng tác của Xuân Quỳnh:

+ Xuân Quỳnh được xem là người viết thơ tình hay nhất trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam từ sau 1945. Nét nổi bật của hồn thơ Xuân Quỳnh là sự dung dị, hồn nhiên, tươi tắn, nồng nhiệt và chân thành, vừa giàu trực cảm vừa lắng sâu suy tư. Riêng thơ tình yêu - mảng đặc sắc của hồn thơ Xuân Quỳnh - tình điệu của thơ bao giờ cũng sôi nổi, mãnh liệt mà tự nhiên, chân thành, đằm thắm của một trái tim phụ nữ trong tình yêu. Tình yêu với nhà thơ là cái đẹp, cái cao quý. Tình yêu tượng trưng cho sự khao khát tự hoàn thiện mình.

+ Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn thiết tha gắn bó với cuộc đời, với con người, khao khát tình yêu, trân trọng hạnh phúc bình dị đời thường. Khát vọng sống và khát vọng yêu mãnh liệt gắn liền với những dự cảm về sự bất trắc của tình yêu và cuộc đời. Vì thế nên Xuân Quỳnh lấy tình yêu làm mái ấm chở che, làm cứu cánh.

Tìm hiểu thêm về phong cách thơ Xuân Quỳnh:

Văn mẫu tham khảo cảm nhận bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Cảm nhận bài thơ Sóng khổ 3, 4, 5 

Nền tảng là một khái niệm đồng thời mang tính vật chất lẫn phi vật chất. Nó tồn tại hiển nhiên trong mọi dạng thức có mặt trong cuộc sống, lắp đặt nên các công trình và nằm ẩn yên bên trong miền hồn thăm thẳm của mỗi cá nhân. Ở mọi cấu trúc tầm cỡ, nền tảng được tạo lập cho sự vững chãi, định hình bản thể của sự vĩ mô và ở đó, trong hình hài của các khối kiến trúc, con người được diện kiến vẻ đẹp tư duy ký thác bên trong sự hữu tồn của viên gạch, nền đất, lớp kính và bản vẽ.

Trong địa hạt tâm hồ - chốn thịnh suy của tâm tư kiếp người, nền tảng khiến cho người ta thấu hiểu về hệ giá trị của bản thân, kết nối sự vô tư lự và ngẫm nghĩ dần vặt, sự bất cần và khát vọng chiếm hữu, cảm giác bất lực và niềm hân hoan chinh phục những tầm cỡ. Nền tảng là phần trọng yếu của mọi hình hài vật chất và cảm xúc phi vật chất. Trong văn chương, nền tảng kỳ thực là một khái niệm mang tính phân ưu giữa các tác phẩm vĩ đại và những thoáng gợn chóng phai của bút lực tác giả. Nền tảng đóng góp cho bộ mặt của mọi áng văn chương, bảo lưu cho sự tồn tại lâu dài của triết lý tồn tại bên trong từng tác phẩm.

Riêng ở địa hạt thơ ca, nền tảng là cơ sở quan trọng thiết tạo nên phong cách đặc hữu của người thị nhân. Bằng nền tảng, người ta tìm thấy ở vần thơ chất liệu đặc sắc của cảm xúc, phương hướng dụng ngữ, sự trăn trở trong cốt cách và tiếng thở nghệ thuật đượm đặc sắc tố bản ngã độc nhất. Và với thơ Xuân Quỳnh, nền tảng ấy là linh tính và dự cảm cho những âu lo trăn trở. Sự xáo động trong hồn cốt khiến định hình nên nền tảng của thơ chị với mọi chất liệu tinh kết nên bằng tình yêu, nỗi nhớ, ước nguyện đoàn tụ. Ta nhìn thấy rất rõ thực tế ấy trong những đoạn thơ sau - những đoạn thơ được dự phần vào việc tạo tác nên “vẻ đẹp nữ tính” xuyên suốt đời thơ Xuân Quỳnh:

“Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

...

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức"

Được xướng danh là “Nữ hoàng thơ tình yêu", ngôi báu trong hồn thơ Xuân Quỳnh ngự trị ở những miền hồn riêng biệt, nơi mà trái tim và sự yêu được kết tỉa, đan gài trong hình hài của những thổn thức chứ không thét gào, âm ỉ khát vọng chứ không cuồng nhiệt, thanh tao bình dị chứ không ước lệ vĩ mô. Ở đó, tình yêu của chị là một chuỗi thầm thì kéo dài, kết nối những cung bậc sâu lắng, phiền muộn tạo thành dáng hình của nàng thơ. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh là sự tái hiện rõ ràng của một dạng thức phát kiến đời sống, bản chất của đời sống ấy nằm trong vòng cương tỏa của những cung bậc khi yêu, cách yêu và ước vọng vì tình yêu.

Dung tích của nội hàm tình yêu trong cuộc đời ấy, trong con người ấy vượt qua sự liên tưởng thông thường thuộc về lứa đôi, phạm trù của “tình yêu” đã chạm đến các mạch nối đặc thù của cả đời sống bao gồm tình yêu đối với gia đình, tình yêu đối với sự thoáng gợn, tình yêu đối với khát vọng, tình yêu đối với những chênh vênh bất định, thình lình lấn lướt những ý niệm bề sâu. Cả trái tim bé nhỏ đã thấu đạt tường tận phương thức vận hành của nó, dường như nó là không gian nhạy cảm đối với mọi chuyển động vô hình hay hữu hình của ngoại cảnh và rồi không thể bỏ sót lại điều gì dẫu vụn vặt nhất, nó e ấp cưu mang, nhặt lấy những tàn rơi ứ đọng bên lề thời cuộc. Chính lẽ đó, sự nhạy cảm nội tại ấy đã mang lại cho dạng thức tình yêu của Xuân Quỳnh mọi dự cảm tổng hòa của diễn tiến đời sống bao gồm cả những lưỡng cực cấu kết nên từ yêu và xa, nhớ và bạc, âu lo và vô tình, tha thiết và mòn phai,...

Tình yêu lứa đôi là nhánh rẽ, được tách chiết từ không gian cảm xúc trong trái tim Xuân Quỳnh. Chính những cảm niệm trong cách thấu đạt về tình yêu lứa đôi mà tiết điệu thơ của chị nhìn chung bám lấy sự vận động chủ lưu từ đây, rằng trong thơ tình yêu đôi lứa nơi tâm khảm Xuân Quỳnh, mọi giai ngân dù thuộc phạm trù nào của cảm xúc đi chăng nữa, nó cũng đều liền mạch với cảm biến thời cuộc và dự trù về nỗi khắc khoải khôn nguôi nơi thế sự cuộc đời.

"Sóng" là thi phẩm được tái tạo từ vòng luân lưu của gió biển, được định hình từ táp gạo của miền khơi vào lòng cát bãi, được thai nghén từ trải nghiệm và suy tư khi Xuân Quỳnh có chuyến đi thực tế tại cửa biển Diêm Điền cuối những năm 1960. Những đoạn thơ được trích dẫn như trên là cực trị cảm xúc của miền nghiệm nơi trái tim người phụ nữ đập những nhịp đồng vọng với cả nhịp biển, nhịp đời và nhịp yêu.

Ngoại cảnh không biến mất hoàn toàn khỏi những đường nét tô tạo bởi tác giả trong các tác phẩm văn học nói chung, thơ ca nói riêng. Ngoại cảnh, ngược lại, bấu rễ vào bề mặt thi từ, nảy nở những diện mạo phát sinh vượt xa ra khỏi quy luật vật lý của thực tiễn để trở thành một sứ giả phát vọng tiếng tù và vang lên từ tầng vỉa sâu thẳm nơi tâm thức nhà thơ. Lắm khi, nó chỉ là một thoáng hiện vô tư từ dòng chảy tự nhiên của xúc cảm thi nhân, nhưng hẳn hòi nó không hư biến, hư mờ mà được dự phân vào quá trình phát ngôn của cảm xúc:

Trước muôn trùng sóng biển

Em nghĩ về anh, em.

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?

Không gian ngoại tại đã được chuyển dịch từ ký ức thực tế sang thành nhãn quan thi vị. Cửa biển Diêm Điền đã gieo cấy sẵn một hạt mầm tương quan giữa cái bao la, bất tận nơi chân trời với niềm nghĩ suy mênh mang, khắc khoải nơi tâm hồn của “Em". Bằng cách đó, “sóng biển" như nghe theo tiếng vẫy gọi của con người và lảo đảo thoát lìa khỏi đường chân trời cố định để vô đập ngân nga theo sự vận động của nỗi niềm nội sinh trong tâm khảm “em”. Ở đây, bản thể của “em" và "sóng" được chiết tách ra, không đồng nhất, không giao nhau triệt để. Bởi lẽ, trong âm hưởng thơ và bối cảnh không gian thi ngữ tạo lập nên, cần thiết phải có một khoảng cách giữa hai đối tượng trữ tình này nhằm đề “em” có thể định hình rõ ràng sự chuyển động của ý thức bên trong trái tim của mình. Nhưng khoảng cách ấy không khiến "em" và "sóng" trở nên rời rạc, lung lay mà mối quan hệ ấy được giữ vững theo tiến trình đồng nhịp của cách "sóng" vỗ bờ và cách "em" không dừng “nghĩ" suy.

Cụm từ “muôn trùng” đã khai mở rộng lớn không gian của biển cả, tấp nập lũ lượt từng cơn “sóng biển"; để rồi, cũng chính nghĩa ý từ cái “muôn trùng” ấy, độc giả cảm được cả cái bất tận trong không gian cảm xúc của chủ thể "em". Và như thế, dòng tâm tư của “em” được biểu lộ trong sự cân đối hài hòa của phép điệp cấu trúc ngay sau đó:

"Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn”

Động từ "nghĩ" như vẫy gọi mọi cung cách của sự yêu, "nghĩ” là phần trí năng cơ bản của con người, thuộc về cấp độ nhận thức lý tính. Nhưng âm hưởng của "nghĩ" trong sự yêu Xuân Quỳnh toát ra từ hai dòng thơ trên lại phần nhiều cho ta thấu đạt nó ở vai trò cảm xúc hơn là lý tính. Cảm xúc của "em" đối với "anh", của "em" đối với chính mình, của “em” đối với trăn trở, của “em” đối với âu lo. Trong động từ “nghĩ" được điệp lại hai lần đó, độc giả chu du tại một vùng sinh địa của nỗi niềm, dao động biến chuyển khôn nguôi của nỗi nhớ.

À ra là thế, “nghĩ” ở đây là một dạng thức biểu hiện của nỗi nhớ, là trạng thái ấy luôn thường trực, luôn ám gợi, luôn ứ đọng tồn tại ở mọi thời khắc trong "em" nên bao giờ “em” cũng phải “nghĩ”. Dù là thiên hướng của “nghĩ" thuộc về phạm trù của trái tim nhưng nó không ly khai toàn bộ khỏi sự tỉnh táo nơi cửa ngõ lý tính. Bởi lẽ rằng trong dòng chảy "nghĩ” suy đó, “em” không chỉ dành nó cho riêng ai, hoặc anh, hoặc em và em dành nó cho cả đôi ta. Đối tượng mà suy nghĩ" của “em” hướng đến là "anh, em". Việc bố trí dấu phẩy ở giữa "anh" và "em" đã khiến cho cấu trúc dòng thơ bị gãy, nhịp thơ bị tách biệt giữa chừng. Nhưng bởi chủ ý của cách bố trí như thế mà việc "nghĩ ngợi, suy tư có sự can dự tỉnh táo của lý tính.

Ở chỗ, “em” đã dành thì giờ để hồi tưởng dòng thơ cuối của khổ trên đã thiết lập nên một đà thơ đóng vai trò gầy dựng hướng phát triển cho nội hàm khổ thơ tiếp đến:

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau"

Cả khổ thơ nhìn chung nằm trong khát vọng tổng thể là khát vọng truy nguyên cho sự khởi đầu của hai thứ. Một mặt, ấy là niềm trăn trở của người thi nhân đối với ý niệm tìm tòi nguồn gốc phát nguyên nên “sóng". Thế là “Sóng” đã được định vị đúng với nguồn gốc của nó, nó được khởi đầu từ những dòng lưu chuyển của "gió" nên hiển nhiên nó bắt đầu từ gió". Nhưng ấy lại chưa phải là điểm khởi nguyên tường tận, vì vậy, dòng nghi vấn lại được tiếp nối về nguồn cội của “Gió”. Điệp ngữ "bắt đầu từ" được ướm đặt vào hai dòng thơ đầu tiên dường như đã biểu thị thứ khát vọng chân thật của lý tính con người.

Đó là thứ khát vọng về sự nghi vấn đối với mọi hiện tượng diễn ra trong đời sống xung quanh. Điều này vốn dĩ là một chủ đề thuộc vào phạm trù triết học, bởi lẽ vai trò của triết học là truy vấn mọi dạng thức tồn tại và biểu hiện của cuộc sống xung quanh nhằm để trả lời câu hỏi về nguồn gốc phát sinh của mọi dạng thực hiện hữu. Ý hướng triết học xuất hiện trong thơ ca vốn dĩ không phải là một điều quá mới mẻ. Người ta đã thấy trong thơ của Danta nét hình đượm đặc của triết học kinh viện thời Trung Cổ, diện kiến trong thơ của Puskin dáng dấp của triết thuyết thời kỳ Chủ nghĩa lãng mạn lên ngôi. Nhưng trong thơ của Xuân Quỳnh, ý hướng triết học không được xác lập một cách quá đỗi rõ ràng, nó giống một hương vị hơn là một món ăn bổ béo bày sẵn, nó giống một thoáng gợn luyến lưu hơn là một cuồng nhiệt bão tố.

Ước vọng truy nguyên về nguồn gốc của các hiện tượng vật lý như "sóng" và "gió" chỉ là một bộ phận cơ bản cho phép toán chủ yếu được đặt ra trong khổ thơ, đó là phép toán truy nguyên về nguồn cội của tình yêu. Nỗ lực đã được nhà thơ gắng cố tìm tòi, liên kết đến cả những hiện tượng tự nhiên nuôi giữ ước mong rằng sẽ có thể biết được đâu là khởi phát cho những cảm xúc, bâng khuâng, nhớ mong, khắc khoải, chờ đợi, hy vọng, v.v thường thấy khi người ta yêu. Nhưng tự thân tác giả đã hồi đáp cho khát vọng đó bằng lời thừa nhận thẳng thắn:

“Em cũng không biết nữa"

Một dòng thơ nhưng nó được gắn vào đó cả hai tình thái từ ở giữa và cuối ("cũng", "nữa”) đã khiến cho âm hưởng xui theo hơi thở nhẹ nhàng của sự bất lực. Bởi lẽ tình yêu là phạm trù được tạo dựng từ bên trong hành trình tương tác giữa người với người, điểm khởi đầu của nó là ở một sự bất định nào đó, một sự hiện hữu mờ nhạt nào đó, một cái gợi nhớ nào đó, một cái đắm say gây ra trong tâm thức của con người và làm sao người ta có thể tìm tòi ra được nguồn cội rõ ràng của tình yêu nếu mỗi thời khắc trôi qua, người ta luôn cảm nhận được vô vàn những biến động chập chờn trong suy nghĩ nội tại và ngoại cảnh bên ngoài.

Tình yêu không được hiện hữu để người ta truy nguyên, bởi vì nó không có một ý nghĩa nhất định tại điểm xuất phát của nó, dẫu là “một buổi chiều", dưới nắng nhạt hay trong gợn gió hiu hiu:

“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng năng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu"

Xuân Diệu đã từng ý thức rõ ràng điều đó và đã tuyên ngôn nên một lời khẳng định cho sự bất khả diện kiến nguồn cội của tình yêu. Và rồi Xuân Quỳnh cũng đã tìm đến, giữa nơi giao thoa miền trời, miền biển, miền hồn để thốt nên một lời thừa nhận giàu mỹ cảm và nữ tính: “Em cũng không biết nữa", tiếp nối đó là một câu hỏi đính kết tại cuối dòng thơ khép lại dòng chảy thi vị của tổng thể toàn khổ:

“Khi nào ta yêu nhau"

Lạ lùng thay, khi trong thơ ca, sự tồn tại của trật tự ngôn ngữ cũng như cấu trúc ngữ pháp được quy định sẵn đều trở nên bị hạn định, cô nén lại thành những hạt cát phân tán giữa không gian mênh mông. Quy luật của ngôn ngữ chỉ là một biểu hiện mờ nhạt trong thi ca khi nó đóng góp vai trò định hướng khả năng hiểu biết chứ không trực tiếp dự phần vào cách thức thấu cảm những ý nghĩa do nhà thơ biểu đạt. Trong dòng thơ này, Xuân Quỳnh sử dụng từ để hỏi rất rõ ràng ("Khi nào”) nhưng lại không lắp đặt dấu chấm hỏi (?!) - vốn dĩ là một bộ phận quan trọng trong câu nghi vấn - ở cuối dòng thơ. Phải hay chăng, lời nghi vấn này không phải được dùng để hỏi, để truy vấn hay để kiếm tìm hồi đáp rõ ràng. Mà hơn hết, dòng thơ này được thiết tạo với giá trị quan trọng hơn cả là để tái khẳng định sự bất lực của mình đối với nguồn cội nguồn của dòng chảy tình yêu. Nó không có dấu chấm hỏi cuối dòng là để thổ lộ cho cảm niệm mà nhà thơ tự đút kết sau những nghĩ suy, dao động từ bên trong.

Cảm niệm ấy là thứ cảm niệm sâu sắc, rằng đừng gắng cố đến độ hư mòn để tìm kiếm nơi tình yêu bắt đầu. Tình yêu có thể không có điểm bắt đầu nhưng nó rõ ràng có được điểm kết thúc (hoặc chia ly hoặc chung thủy mặn nồng), và trong tâm thế của những con người dành niềm tin bất tuyệt cho tình yêu và phụng thờ vị thần tình ái, có lẽ sẽ ý nghĩa hơn nhiều, giá trị hơn nhiều khi người ta dành thì giờ và xúc cảm để đầu tư cho chặng đường mình đương đi qua, để kiến lập nên đích đến chắc chắn hơn của tình yêu mà ở đó, ta có quyền hy vọng một hạnh phúc, một toại nguyện, một lòng tin, một khoan thai.

Những nỗ lực kiếm tìm nguồn cội tình yêu đã tiếp nối dài hơn quãng ngân của niềm nhung nhớ và rồi nỗi nhớ ấy dâng tràn ra khỏi vòng cương tỏa của hạn định về thời gian - không gian và tác động lên cả cấu trúc của tứ thơ:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức"

Tổng thể mạch thi hứng của cả bài thơ “Sóng” là thế vận động tương phùng của hai chủ thể "sóng" và "em". Lắm khi, chúng biệt tách nhau ra để soi rọi và thấu cảm lẫn nhau, lần tìm những sự chung nhất trong cách "sóng" vỗ bờ và cách "em" nhở "anh". Đôi khi, hai chủ thể ấy là thực hiện thứ cơ chế bổ trợ nhau, rồi đến xích lại gần nhau và rồi nhất quán lẫn nhau tạo dựng thành giác độ đồng quy trong tư cách, từ biệt lập đến độ hòa quyện vào nhau.

Hai dòng thơ đầu tiên của khổ thơ trên đã thể hiện rõ ràng thứ cơ chế đó, ở chỗ, nó vừa tái hiện sự chuyển lưu của “Con sóng" ở hai vị trí cơ bản là “lòng sâu” và “mặt nước". Cách diễn tả này nằm ở bề mặt của tứ thơ, là phần diễn tả những chuyển động và hải phận của “sóng” giữa điệp trùng biển khơi. Và rồi từ chính những thi ngữ sẵn có đó, hiệu năng ngôn ngữ đã kiến tạo nên một chiều kích nữa của phương hướng thấu đạt nội hàm ý thơ. Hiển nhiên ta thấy rõ và ta biết chắc rằng trạng thái thường trực của "sóng" là sự chuyển động không dừng, liên hồi, không đứt quãng, không ngơi nghỉ ở cả trên bề mặt" hay ở độ "sâu" bên dưới. Chính cách thức chuyển động liên tục, vận hành hay di dịch đổi thay đó kết hợp cùng với những danh từ đa nghĩa như "mặt" và "lòng" đã làm xuất hiện nên một chủ thể nữa nằm ở bề sâu, bề sau, bề xa của ngữ từ mà đòi buộc phải lắng đọng, soi nhìn và mở toang ra những ý hướng khả dĩ để đón nhận lấy.

Phải hay chăng, chính những con sóng ”liên hồi lăn tăn trên mặt biển" cũng giống như những đổi thay buồn, vui, giận, yêu, ghen, nhớ,... của chính gương mặt nơi "em" khi đem lòng yêu anh? Và phải hay chăng những "Con sóng" chuyển lưu ào ạt bên dưới lòng biển khơi cũng tự nó kết nối với những biến thiên trong tấm lòng" của em: hôm nay thương nhớ, một mai dỗi hờn, đôi ngày ghen ghét, rồi lại thuần túy về lại với niềm thương "anh", yêu "anh". Cách "Con sóng” tấp nập vỗ bờ, ào ạt xô vào miền cát trắng đã khiến một cách phù hợp với nghĩ suy và cảm xúc thực tế trong phương diện tình yêu.

Ở địa hạt tình yêu, dưới cảm niệm của Xuân Quỳnh, sự kết nối diễn ra giữa hai đối tượng là bình đẳng, vì yêu là đặc tính của con người, là quyền hạn bất khả phân ly của nhân quyền, thuộc về sự biểu hiện cơ bản của nhân tính nên chị đã đặt bước chân của mình trên đại lộ thế kỷ mới để khẳng định về cách thức tồn tại của tình yêu nơi người con gái cũng có đủ đầy quyền hạn để tuyên ngôn một chân lý tâm hồn: “Lòng em nhớ đến anh”. Nỗi nhớ ấy không những tác động đến bố cục ngữ pháp tổng quan của toàn khổ thơ, mà nó còn làm đảo lộn cả chiều kích diễn biến của quy luật thời - không, nó chuyển dịch nỗi niềm và sự khát vọng đến mức độ xâm nhập cả vào tiềm thức:

“Cả trong mơ còn thức”

Văn chương không tuân theo lề luật cục bộ như những hình thái ý thức khác. Sự tồn tại của văn chương là tập hợp tự do của những biến tố cảm xúc nội sinh trong cảm tưởng và suy nghiệm đặc thù của tác giả. Vì lẽ đó, Xuân Quỳnh đã không dùng đến hệ thống các tính từ đặc tả cường độ của động từ "nhớ". Thay vào ấy, chị sử dụng dòng thơ trên để gợi tả nỗi “nhớ" tiềm tàng nhưng đầy ám gợi. Sự ám gợi lấn lướt diễn biến của thực tế và rồi đeo bám vào trong cả cõi giới của giấc mơ" - biên thùy cùng cực nơi tiềm thức vẫy gọi và khơi mở những tri năng đặc biệt mà người ta chưa bao giờ hình dung đến. Nơi đó, nó không tồn tại những sinh thể hữu cơ để ta chạm, ghi, siết. Nơi đó, nó không kết nối với ta bằng phương diện vật chất thuần túy như lệ thường đời sống, nó thừa nhận những cái phi lý nhưng lại là chân lý ("mơ còn thức"). Mà ở đó, nó là nơi dung chứa những ý niệm về xúc cảm, vùng đất tập hợp các biến thể thuộc về nghĩ suy và trăn trở mà chỉ khi nào nồng độ và cường độ cảm xúc phát triển đến độ mãnh liệt thì cánh cổng xâm nhập vào cõi giới này mới mở bật ra.

Trong tiềm thức Xuân Quỳnh, trạng thái thao thức thường trực cứ thầm thì theo đó ám gợi và khơi vẫy chính là trạng thái của nỗi "nhớ". Nỗi "nhớ" đã kết nhập hai tọa độ độc lập của thực tại và tiềm thức lại, nó khiến cho trái tim và lý trí của Xuân Quỳnh được phủ trùm lớp vải Acacia đan dệt từ những rung động chân thực hơn bao giờ hết. Yêu là vậy, lời nói có thể khiến tình yêu trở nên hoa mỹ bằng những ý vị thanh nhã mỹ miều, hành động có thể đốc thúc tình trường trở nên nồng hậu và phấn khởi nhưng có lẽ, chỉ bằng những thể bày bộc bạch tâm tư, thốt nên từ miền hồn của tâm thức với những thảng thốt, ân cân, xao nhãng và hoài cảm, phi lý và nhiệt thành, chân ái và đầy xót xa thì câu chuyện tình yêu mới được lắp kín bởi sự thủy chung, mới đủ sức minh chứng cho lòng chân thành.

Đặt trạng thái cảm xúc đó của Xuân Quỳnh dưới góc độ phân tâm học phát triển bởi nhà tâm lý học Sigmund Freud thì có lẽ, thứ trạng thái “nhớ nhung ấy là minh chứng giàu sức thuyết phục cho quan điểm "Chỉ trong giấc mơ, người ta mới diện kiến được những gì chân thực nhất". Và bằng cách đó, Xuân Quỳnh cứ giăng mành ý niệm về tình cuộc của mình bằng tất thảy những gì biến động và đảo chao, dường như chị đã về tình yêu bằng bóng đêm, họa tâm tình bằng nỗi nhớ, khắc suy tư bằng nỗi niềm nên mỗi tiếng yêu là một lời thổn thức, phản hồi chân thật bằng những tỏ bày ý vị, xuyến xao,...

Nếu ví cầu trúc nghệ thuật của tổng thể các khổ thơ trên là một vùng biển khơi mênh mông thì thể thơ năm chữ với tiết điệu đặc thù vang vọng ra từ đó đóng vai trò như tạo lập nên âm điệu của những con sóng vỗ xô liên tục không dứt vào bờ bãi. Trên khơi trường nghệ thuật ấy, những ngôn từ giản dị nhưng giàu sức khơi vẫy và đan gài hệ thống hình ảnh ẩn dụ ở nhiều tầng vỉa đã khiến cho chủ lưu tình cảm xuyên suốt thi phẩm trôi chảy dào dạt không đứt quãng. Giữa vùng biển mênh mang đến thế, độc giả đã không bị cuốn lạc vào vùng tịch địa âm u của những ám ảnh, ảo mộng hư vô, mà thay vào đó, sự vận động luân lưu từ tách rời đến bấu quyện vào nhau giữa hai chủ thể "sóng" và “em” đã đóng vai trò như ngọn hải đăng rọi soi hướng phát triển nghệ thuật trở nên logic, hài hòa với ý hướng diễn đạt về tư tưởng chủ đạo của tác giả cầm trịch nhất quán từ đầu đến khi khép lại.

"Sóng" là thị phẩm tiêu biểu nhất của đời thơ Xuân Quỳnh, vì vậy, không phải vô căn cứ khi xác định rằng "vẻ đẹp nữ tính" trong “Sóng” đã dự phần đáng kể vào quá trình thiết tạo nên nét đẹp ấy trong toàn thể không gian thơ do Xuân Quỳnh sáng tác. Vẻ đẹp nữ tính ấy vừa mang tính truyền thống, vừa mang nét hiện đại. Truyền thống ở chỗ, vẻ đẹp ấy luôn toát ra từ chính nhân phẩm cao đẹp, bằng sự nhẹ nhàng, thanh nhã, thiết tha chứ không cuồng nhiệt táo bạo vẻ đẹp ấy được tô vẽ bởi sự son sắt thủy chung, niềm tin và khát vọng đến những điều tốt đẹp cho người thương, mái ấm và những phận kiếp cô liêu, nó được đắp xây bởi ý nguyện tích cực lẫn trạng thái âu lo thường trực cho những biến cố mảy may xảy đến bao giờ chẳng hay. Mặt khác, vẻ đẹp nữ tính trong đời thơ Xuân Quỳnh cũng thể hiện một ý niệm hiện đại về vai trò chủ động của phụ nữ đối với tình yêu, răng chị bày tỏ sự rung cảm của trái tim, nỗi nhớ và lời yêu đối với người mình yêu bằng tất thảy những lời lẽ chân thành, thẳng thắn nhưng vẫn tinh tế, đằm thắm trong nét đẹp dịu dàng nồng hậu của người phụ nữ Việt Nam.

Những đoạn thơ trên và vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh đã đem lại cho bối cảnh thời đại hiện nay chiều sâu tâm lý và khơi vẫy mỗi cá nhân hướng về trái tim của mình - nơi phát sinh, cội nguồn, căn rễ của những điều chân thật và mới mẻ luôn đợi chờ ta khám phá. Lắm người bảo rằng, sự thai nghén và ra đời của “Sóng" dường như đã đi ngược lại với chủ lưu văn học lúc bấy giờ, khi cả nước tiếp nhập vào trong bản hùng ca dân tộc kháng chiến cứu quốc. Nhưng nào có đâu, nào phải đâu, nào thật đâu..., bởi lẽ giữa những hồi bom đạn thả dài trên những miền đất rạng ngời của non sông, giữa dòng chảy ào ạt dồn dập của văn chương cách mạng, giản đơn rằng, “Sóng" cùng vẻ đẹp nữ tính mà Xuân Quỳnh trao gởi chỉ thuần túy như một đóa “Hoa dọc chiến hào” để mỗi cá nhân có cơ hội bày tỏ lòng tâm sự và cảm nhận lặng lẽ những điều tâm hồn bên trong đang thổn thức. Chính cách mà “Sóng” nở rộ mang theo mùi hương tạo nhã, êm đềm của nó đã khiến cho mỗi người được sống dậy những gì chân thật nhất và giữ niềm tin mãnh liệt hơn về một đời sống đáng mơ ước.

Bối cảnh khi dịch Covid đã lấn lướt xóm cửa, làng mạc, khi bè lũ "quân thù” kinh hãi ấy đang đe dọa xã hội ta bằng cơn ác mộng về cái chết và sự chia lìa, đọc “Sóng” và thấu cảm đủ đầy nét đẹp nữ tính cùng những giá trị thuần hậu mà bài thơ đem lại, mỗi cá nhân chúng ta lại có cơ hội ấp ủ những ý niệm cao đẹp, khơi sâu tầng vị nghĩ suy nội tại để kiếm tìm động lực cho trái tim, cho lý trí và cho cả sự gắn kết giữa người với người cùng nỗ lực vì một xã hội ngày một cường thịnh.

(Bài làm của bạn Võ Lập Phúc - thủ khoa khối D14 năm 2020)

Cảm nhận bài thơ Sóng - Bài văn mẫu 1:

Trong số các nhà thơ thuộc "thế hệ chống Mĩ", Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ viết nhiều và rất hay về tình yêu. Thơ tình của chị đậm nét tự truyện. Vẫn là những chuyện muôn thưở của tình yêu nhưng bao giờ chúng cũng có vẻ như là chuyện riêng của Xuân Quỳnh, không quá thật thà nhưng xa lạ với những xốn xang, những sự "réo rắt" quá độ. Sóng là một bài thơ hay của chị, in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968). Ở đây, khát vọng tình yêu, dù hình tượng mà Xuân Quỳnh mượn làm ẩn dụ vốn chẳng xa lạ gì với các nhà thơ viết về tình yêu kim cổ.

Trước Xuân Quỳnh đã có biết bao nhà thơ thiên tài viết về tình yêu. Xuân Quỳnh như không có ý đua tranh với họ. Chị "khiêm tốn" chỉ đem chuyện riêng kể không giảng giải cho ai, không xây dựng lí thuyết, không nói điều vượt quá nhận thức và trải nghiệm của chính mình. Khi chị nói:

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

Thì trước hết ta nên hiểu là chị đang nói về mình, đang thú nhận nỗi "bồi hồi" của mình cùng với sự tự biết rằng mình còn rất trẻ. Nếu mấy câu ấy ứng hợp với nhiều người thì lại là chuyện khác. Cái nhìn của Xuân Quỳnh xuất phát từ bên trong. Nó không giống sự suy đoán tuy già dặn, đúng đắn nhưng lại đi từ ngoài vào của các nhà nghiên cứu tâm lí tình yêu. Cũng thế, khi nói về nơi bắt đầu của tình yêu, Xuân Quỳnh thực sự đứng giữa cái phân vân của chính mình:

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

Người ta thường hay đối chiếu hai câu thơ "Em cũng không biết nữa, Khi nào ta yêu nhau'' của Xuân Quỳnh với câu "Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?" trong bài Vì sao của Xuân Diệu. Đúng là giữa chúng có sự tương đồng nhưng cái khác vẫn rõ. Mặc dù tỏ ra ngẩn ngơ nhưng Xuân Diệu vẫn cắt nghĩa và sự cắt nghĩa của ông khá rạch ròi. Xuân Quỳnh không hẳn giống thế, chị không ham lí giải, phân tích, dù trong lòng có bao mối bức xúc đòi "tìm ra tận bể" để "hiểu", để "nghĩ". Chị vẫn giữ nguyên vẹn tâm lí phụ nữ của mình với cái "lắc đầu” thật dễ "động lòng": "Em cũng không biết nữa". Nhu cầu tìm hiểu ở đây là nhu cầu tình cảm hơn là nhu cầu của trí tuệ. Nó cũng như con sóng, được đẩy tới rồi thoái lui và tan trong mỗi ngọt ngào được che chở, vỗ về. Biết ta đang yêu nhau thế là đã đủ. Thắc mắc một tí chỉ là để yên tâm hơn với hạnh phúc hiện có. Tuy nhiên, như chị đã viết trong một bài thơ khác (Thuyền và biển): "... tình yêu muôn thuở, có bao giờ đứng yên dù không có gì thật gay cấn thì tình yêu vẫn sống động, vẫn muốn vỗ suốt cả hai chiều không gian và thời gian:

Con sóng dưới lòng sâu...

Con sóng trên mặt nước,

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được.

Là con người của thời hiện đại dám sống với toàn bộ những gì mình có, Xuân Quỳnh không ngại nói thẳng ra nỗi đau đáu của mình. Trong tâm thức con người ấy chỉ có "anh" là đáng kể mà thôi. Chị rất kiên định trên "lập trường tình yêu" và đề cao tuyệt đối lòng chung thuỷ:

Dẫu xuôi về phương Bắc,   

Dẫu ngược về phương Nam,

Nơi nào em cũng nghĩ,

Hướng về anh - một phương.

Những lời khẳng định ấy thật da diết, riết róng và cũng chứa đựng thật nhiều thách thức, thách thức với hoàn cảnh và thách thức với cả tình "anh" nữa! Những ai hay do dự và có thói quen "vọng ngoại" trong tình yêu hẳn sẽ có cảm giác "chợn" trước sự tỏ bày dứt khoát ấy. Bình thường người ta vẫn nói ngược về phương Bắc, xuôi về phương Nam nhưng Xuân Quỳnh thì đã nói ngược lại. Đối với chị, dù có xáo trộn một tí thì điều đó cũng không có gì là quan trọng. Quan trọng nhất chỉ là "phương anh", dù ở đâu em cũng "hướng về". Nếu nói đến sự quyết liệt của tình yêu Xuân Quỳnh thì khổ thơ này là dẫn chứng thuộc loại tiêu biểu nhất.

Như nhan đề bài thơ đã nói rõ, hình tượng trung tâm ở đây là hình tượng sóng. Mới nhìn qua, cách biểu đạt khát vọng tình yêu bằng ẩn dụ kia chưa phải đã thật độc đáo. Dù vậy, Xuân Quỳnh đã hoàn toàn đúng khi chọn đối tượng để hoá thân. Sóng - Xuân Quỳnh - nhân vật trữ tình tuy là ba nhưng cũng gần như một. Ở Xuân Quỳnh cũng có nhiều nét đối cực như sóng, cũng không bao giờ chịu yên bề như sóng và cũng như sóng, luôn muốn "tìm ra" với biển lớn của tình yêu, của cuộc đời:

Dữ dội và dịu êm,

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình,

Sóng tìm ra tận bể.

Căn cứ vào âm điệu dồi dào, nhiều biến đổi và thường là cuộn trào sôi nổi của bài thơ, có thể thấy sóng là một hình tượng sống thực chứ không hề là hình ảnh minh hoạ (hình ảnh minh hoạ chỉ là vỏ ngoài của ý tưởng, nó sẽ chết khi ý tưởng đã được người đọc lĩnh hội hết). Xuân Quỳnh đã phả vào hình tượng “sóng” vốn khá quen thuộc hơi thở yêu đương nồng nàn của mình, và do vây tái tạo nó, khiến nó như mới được sinh ra lần đầu với tình yêu của chị. Đôi khi sự hoá thân của chị vào "sóng" sâu sắc đến mức "sóng" cũng thành ra có dáng... vất vả, lo toan, tất bật ngược xuôi. Khổ thơ có mấy câu "Dẫu xuôi..." “Dẫu ngược” (đã trích) cùng khổ tiếp theo cho ta thấy điều đó rất rõ:

Ở ngoài kia đại dương,

Trăm ngàn con sóng đó,

Con nào chẳng tới bờ,

Dù muôn vời cách trở.

Khi ẩn mình trong "sóng", khi đứng hẳn ra xưng "em", một mà hai, hai mà một, cái “tôi” Xuân Quỳnh luôn thao thức, trăn trở. Vừa bộc lộ gián tiếp lại vừa bày tỏ trực tiếp, khi ẩn, khi hiện, đấy mới là "nhịp sóng" ngầm của bài thơ, quy định những xao động bề mặt, biểu hiện qua câu chữ và âm điệu, nhịp điệu tương đối dễ thấy. Ẩn dụ "sóng" tuy có lúc bị phá vỡ, nhưng đấy chỉ là sự phá vỡ bề ngoài. Điều đó tạo điều kiện cho ta hiểu sâu hơn tầng "ẩn dụ" của cả bài hiểu sâu hơn những âu lo khắc khoải, những hi vọng, khát vọng, những gắng sức kiếm tìm và hành động tất yếu phải có ở một tình yêu chân chính một tình yêu như tình yêu của Xuân Quỳnh khi đối diện với cuộc đời rộng lớn, với thời gian trôi chảy không ngừng:

Cuộc đời tuy dài thế,

Năm tháng vẫn đi qua,

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa.

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu,

Để ngàn năm còn vỗ.

Như trên đã phân tích, bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh có một cách thể hiện riêng về khát vọng tình yêu. Bao trùm lên là sự chân thực trong tình cảm, dường như chỉ nói những điều mà nhà thơ đã thể nghiệm sâu sắc. Cách nói ở đây táo bạo, nhiều khi quyết liệt chứ không dè dặt, sẽ sàng. Hình tượng "sóng" được xây dựng sinh động, hàm chứa nhiều ý nghĩa phong phú, tuy nhiên nó thường bị giải thích bằng những lời thổ lộ tình cảm trực tiếp của nhân vật trữ tình. Với một vẻ đẹp khá độc đáo, khá riêng đó, bài thơ đã dành được cảm tình tốt đẹp của rất nhiều người đọc trong những năm qua. Như mong ước của Xuân Quỳnh, "giữa biển lớn tình yêu", con sóng thơ được chị hoá thân vẫn còn dào dạt vỗ.

Nghe bài cảm nhận Sóng (Xuân Quỳnh)

Cảm nhận bài thơ Sóng Bài văn mẫu 2:

Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca Việt Nam. Đã có nhiều nhà thơ viết về đề tài này với những cảm xúc và phong cách nghệ thuật riêng của mình, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc. Xuân Diệu đã từng làm người đọc nhớ mãi khi đặt tất cả dấu ấn tình yêu mãnh liệt của mình với “Biển”, còn Xuân Quỳnh - một nhà thơ nữ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã thể hiện tình yêu của mình qua hình ảnh “Sóng”, một sự tiếp nối và sáng tạo độc đáo trong định nghĩa về tình yêu. Lúc nhịp nhàng trầm lắng, khi sôi nổi ngân nga đầy mãnh liệt, sóng – dòng chảy xuyên suốt của bài thơ đã thể hiện tình cảm chân thành và sâu sắc của người phụ nữ đang yêu.

Mở đầu bài thơ là một trạng thái đặc biệt của trái tim khao khát tình yêu, tìm đến những cảm xúc lạ lẫm và mới mẻ trong tâm hồn:

Dữ dội và lặng yên

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Trong lòng mỗi người luôn hiện hữu một con sóng tình cảm ngập tràn, nhưng chỉ đến khi nó được dâng lên và lan toả ta mới có thể cảm nhận được những thay đổi trong suy nghĩ và nhận thức về tình yêu. Không gấp gáp, vồ vập, Xuân Quỳnh đã thay lời tất cả những trái tim trẻ bộc lộ nỗi lòng mình bằng những trạng thái tình cảm khác nhau thông qua những con sóng. Khi dữ dội mãnh liệt, khi dịu êm trầm lắng, khi ồn ào nhấp nhô, có lúc lại âm thầm lặng lẽ, những tình cảm tưởng chừng như mâu thuẫn, đối lập nhau trong trái tim của người phụ nữ nhưng lại mang theo tất cả những đặc điểm và trạng thái tâm lí đang khao khát tình yêu. Nhiều khi chính bản thân họ không thể định nghĩa và gọi tên cảm xúc của chính mình, muốn tìm đến những định nghĩa riêng, tìm sự đồng điệu, hoà nhập vào bể lớn tình yêu. Chính vì thế từ dòng sông bình lặng nhỏ bé trong tâm hồn, con sóng tình đã đi đến những miền bể xa. Nơi ấy có tình yêu và nỗi khát vọng không khi nào ngừng tắt:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

Tình yêu luôn hiện hữu trong cuộc sống của mỗi người, giúp cho tâm hồn thêm nhạy cảm, tinh tế và biết tin vào những điều tốt đẹp. Với Xuân Quỳnh, tình cảm ấy - những con sóng lòng từ ngàn xưa đến nay và đến tận mai sau vẫn không bao giờ ngừng chảy. Quá khứ của ngày xưa, tương lai của ngày sau mãi vẹn nguyên một nỗi khát vọng bồi hồi về tình yêu trong trái tim của người phụ nữ trẻ khao khát xa xôi. Giờ đây, đứng trước bể lớn mênh mông, cảm nhận mình nhỏ bé và lọt thỏm trong cảm giác tình yêu mênh mông, người con gái ấy nghĩ về bản thân mình, về người yêu, về biển lớn và tự hỏi chính bản thân mình: ”Từ nơi nào sóng lên?”. Tình cảm ấy xuất phát từ nơi nào, từ chính bên trong mỗi người hay từ cuộc sống muôn màu muôn vẻ bên ngoài? Khi yêu, ai cũng như ai, đều muốn phân tích và định nghĩa từng trạng thái tâm lí, từng biểu hiện cụ thể để đi đến định nghĩa và giải thích về nó. Sáng tạo trong cách thể hiện, trong cách định nghĩa, nhà thơ nữ trẻ đã giải thích những điều khó hiểu ấy bằng những hình ảnh quen thuộc, nhẹ nhàng:

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

Nỗi nhớ là biểu hiện của tình yêu khi xa cách. Nỗi nhớ ấy được Xuân Quỳnh diễn tả thật mãnh liệt, thường trực cả mọi lúc, khi thức cũng như khi ngủ. Những tình cảm chôn chặt trong lòng, tình cảm tràn ngập trong tim muốn bộc lộ nhưng không thể nói lên thành lời, chỉ biết tìm đến trong nỗi nhớ mãnh liệt, cồn cào và da diết. Như những con sóng cuồn cuộn, triền miên, vô tận, nỗi nhớ ấy đã chảy vào từng nhịp sống, trong cả tiềm thức là những giấc mộng đêm về. Sóng khao khát tới bờ, còn em thì khao khát đến với anh. Tình yêu của người con gái lúc thiết tha, mãnh liệt nhưng vô cùng nữ tính, ý nhị và sâu xa, chân thành.

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Trải qua bao trắc trở gian lao, bao biến cố ngược xuôi, khó khăn gian khổ, dù không gian địa lí cách trở, thời gian xa xôi nhưng lòng người con gái vẫn “hướng về anh  - một phương”, không bao giờ thay đổi. Điều đó thể hiện được sự chân thành, chung thuỷ trong tình yêu của người phụ nữ, luôn gửi tình yêu của mình đến một người, chỉ một người thôi nhưng đầy ăm ắp. Những con sóng đại dương dù bão tố vùi dập nhưng vẫn trở về với bờ, hoà nhập vào miền cát ấm nóng. Và ở đây, cô cũng tự dặn lòng mình, hứa với tình yêu của mình sẽ đến với bờ bến hạnh phúc dẫu xa
xôi, dù muôn vàn cách trở:

Ở ngoài kia đại dương

Trăm ngàn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dẫu muôn vàn cách trở

Khát vọng mãnh liệt, tình yêu chân thành sâu sắc nhưng trong trái tim trẻ kia vẫn ý thức được rằng đó là thứ mong manh khó giữ, có thể trơn tuột khỏi tay:

Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn

Hôm nay yêu mai có thể xa rồi

(Nói cùng anh)

Trăn trở, băn khoăn liệu tình yêu ấy có vượt qua được bể lớn của cuộc đời, liệu có thoát khỏi quy luật cuộc sống, những đổi thay không ai nói trước được. Cuộc đời dài đấy, năm tháng dẫu đi qua, mây vẫn bay, biển vẫn rộng, sóng vẫn vỗ bờ nhưng rồi tất cả sẽ vào cõi xa xăm vô định. Bể lớn cuộc đời, bể lớn tình yêu là vô hạn nhưng cuộc đời con người là hữu hạn, làm sao có thể vượt thoát ra khỏi giới hạn ấy? Xuân Quỳnh đã đặt nỗi trăn trở ấy trải dài theo những con sóng tình cảm lo âu, để rồi nó trở nên thôi thúc, bùng lên thành khát vọng được trở thành những con sóng mãi trường tồn, mãi dâng lên và tìm đến bờ:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

Những con sóng dạt dào đã khép lại, nhưng những con sóng tình yêu trong lòng mãi dâng lên và cồn cào, khắc khoải trong biển khơi, trong lòng mỗi chúng ta - những người vừa chớm mười bảy...

(Đỗ Lê Bảo Duyên)

Cảm nhận bài thơ Sóng - Bài văn mẫu 3:

Từ xưa đến nay tình yêu đôi lứa luôn là nguồn thơ không bao giờ vơi cạn cho các thi sĩ thăng hoa cảm xúc viết nên bao vần thơ tình ngọt ngào, sâu lắng rung động lòng người như Puskin (Nga), Tago (Ấn Độ), Xuân Diệu (Việt Nam). Nhưng có lẽ đến những năm tháng chiến tranh chống Mỹ khốc liệt tuổi trẻ Việt Nam mới ngỡ ngàng khi được cảm nhận những bài thơ tình vừa hồn hậu chân thành vừa tươi tắn đắm say. Tiêu biểu nhất là bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.

Hình tượng sóng vừa gợi nghĩa thực là hiện tượng sóng dào dạt vô hồi mênh mông trên biển cả, vừa gợi nghĩa ẩn dụ diễn đạt nhịp sóng xao xuyến, bồi hồi trong trái tim tình yêu của nhân vật “em”:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

….

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

Mở đầu bài thơ là sự đối lập rồi lại đối lập giữa hai thái cực của cùng một hiện tượng là sóng. Phức tạp ở hình thức và khó hiểu ở bản chất. Tiếp theo là một câu cắt nghĩa mà không cắt nghĩa được càng làm tăng thêm sự kì lạ của sóng. Mượn sóng là để làm biểu tượng cho tình yêu, miêu tả sóng với những đặc điểm kì lạ cũng là nói đến cái đa dạng, phức tạp, khó giải thích của tình yêu. Sóng nước đã chuyển sang sóng tình, sóng nước sóng tình đan xen vào nhau bổ sung cho nhau. Tình yêu là như vậy, là một hiện tượng khó lý giải cho minh bạch, nhưng khát vọng tình yêu của con người thì muôn đời không đổi. Con sóng ngày xưa như nào thì ngày nay vẫn vậy. Đó là sự bất di bất dịch của những quy luật tự nhiên, đây là quy luật của tình yêu.

Tình yêu cũng không bó hẹp trong một phạm vi lứa tuổi nào, nhưng tình yêu thường đi đôi với tuổi trẻ. Tình yêu tràn đầy cơ sở thanh xuân, làm bồi hồi khiến trái tim lúc nào cũng thổn thức nhớ mong. Cũng như Xuân Diệu nói:

“Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo

Hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu”

Bởi chỉ có tuổi trẻ mới có sức mạnh để đẩy ước vọng tình yêu lên thành khát vọng để tình yêu trở thành hiện thực không còn xa vời lý thuyết nữa mà hạnh phúc đắm say trong tầm tay và trái tim.

Sóng với gió còn tương đồng ở sự bí ẩn:

“Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

….

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”

Câu thơ thật hồn hậu chân thành vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh nhân vật “em” đang đứng trước muôn trùng sóng bể và trái tim đang suy tư, trăn trở thể hiện qua điệp ngữ “em nghĩ” để nói về tình yêu của anh, em và của sóng trên biển lớn. Cả hai đều giống nhau về sự bí ẩn và khó lí giải dù có khát khao truy tìm tận cội nguồn của nó qua những câu hỏi tu từ liên tiếp “từ nơi nào sóng lên”, “khi nào ta yêu nhau”. Câu hỏi không có câu trả lời rõ ràng chứng tỏ sóng mãi là bí ẩn và tình yêu của con người cũng vậy. Tình yêu của con người như một thứ ánh sáng, như khí trời để thở cũng như Xuân Diệu viết:

“Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào”

Thế nhưng tình yêu cũng không phải là công thức định lý cứng nhắc nên không ai biết trước được tình yêu của mình, không ai biết được mình yêu từ bao giờ. Có lẽ Xuân Quỳnh quan niệm tình yêu không cần truy cứu đến cội nguồn tình yêu bởi khi yêu nhau đôi lứa chỉ cần hai trái tim hòa cũng nhịp đập, hai tâm hồn giao hòa giao cảm là đủ. Vì thế tình yêu muôn đời mãi là điều bí ẩn và phải chăng chính sự bí ẩn ấy lại làm nên sự quyến rũ mê hồn của tuổi trẻ từ xưa đến nay và mãi mãi về sau.

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

….

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”

Con sóng dưới lòng sâu và trên mặt nước là những cung bậc khác nhau của nỗi em nhớ anh. Sóng trên mặt nước dù có lớn cũng còn có thể lựa chiều mà vượt chứ sóng dưới lòng sâu mới thật dữ dội và nguy hiểm. Nhưng dù trên mặt hay sâu thì con sóng đều có bờ, là nơi đến của sóng, là cái đích để đi đâu cũng thấy nhớ dù ngày hay đêm. Nỗi nhớ còn được gắn với khái niệm thời gian vô tận và không gian vô cùng. Với thời gian nó không có ngày đêm, với không gian nó không có phương hướng.

Tình yêu dù trong sáng, mãnh liệt đến đâu, lãng mạn bay bổng đến đâu thì vẫn gắn với đời thường. Vì thế những người đang yêu ngoài sự say mê còn phải có đủ nghị lực và lí trí để vượt qua mọi thử thách, giông bão của cuộc đời, với niềm tin sẽ tới đích:

“Ở ngoài kia đại dương

Trăm ngàn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở”

Niềm tin và nghị lực, em tìm thấy ở thiên nhiên và chính mình. Khi đã yêu thật lòng, dù muôn vời cách trở chúng mình cũng vẫn đến được với nhau. Đẹp là thế, thiêng liêng là thế nhưng tình yêu cũng lại là thứ ngắn ngủi mong manh và khó giữ:

“Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

Tuy không hiện lên thành chữ, thành lời trong đoạn thơ nhưng ẩn hiện đâu đây một thoáng lo âu rất chính đáng về tình yêu. Liệu nó có thể vượt qua quy luật của cuộc đời không? Vì vậy trong khi say đắm nhất nhà thơ cũng không thoát ly khỏi hiện tại, trong cái nồng nhiệt vẫn có những cái dự cảm lo âu. Tình yêu bao giờ cũng gắn liền với một con người cụ thể, gắn liền với cái hữu hạn của đời người, muốn vượt ra khỏi giới hạn đó chỉ có một cách là hòa tan tình yêu vào thiên nhiên vĩnh cửu. Nỗi trăn trở đã trở thành sự bức bách, thôi thúc: “Làm sao được tan ra/Thành trăm con sóng nhỏ” trong đại dương bao la kia để được tồn tại mãi. Tình yêu bùng lên thành khát vọng, khát vọng sôi sục mà vẫn khiêm nhường đầy nữ tính. Mỗi chữ mỗi câu trong đoạn đều được chọn lựa khéo léo nên có giá trị biểu cảm cao.

Xuân Quỳnh đã thăng hoa tình yêu trong trái tim mình để thành một tác phẩm tuyệt tác. Nổi bật lên trong bài thơ tâm trạng khi đang yêu của nhân vật “em” với nhiều cung bậc cảm xúc. Bài thơ sẽ sống mãi trong lòng những ai đã, đang và sẽ đến với tình yêu.

Cảm nhận bài thơ Sóng - Bài văn mẫu 4:

Tình yêu lứa đôi, tình cảm vợ chồng… đó là đề tài vô tận được các thi sỹ, nhạc sỹ, nhà văn khai thác, thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau. Các nhà văn, nhà thơ thường thông qua những hiện tượng, qui luật tự nhiên trong cuộc sống hay nhưng vật gần gũi, thân quen để ví von, ẩn dụ khi nói về tình yêu. Như nhà thơ Nguyễn Trung Kiên dùng hình tượng “Đôi dép” để triết lý sâu sắc về sự gắn bó, thủy chung, son sắt trong tình yêu. Nhà thơ Vũ Cao thì ví tình yêu đôi lứa như “Núi đôi” không thể chia lìa “núi chồng, núi vợ đứng song đôi”; nhà thơ Trần Hòa Bình vô tình nhìn thấy một chiếc lá rụng giữa mùa thu cũng có bài thơ hay “Thêm một” để chiêm nghiệm về cuộc đời, về tình yêu…

Nhưng có lẽ, hình tượng được nói đến khá nhiều và thể hiện được sự tinh tế, đằm thắm nhưng dữ dội, mãnh liệt của tình yêu đó là hình tượng Biển và Sóng. Và, một trong những nhà thơ có những bài thơ hay nói về tình yêu bằng sự liên tưởng đến khéo léo, tài tình có liên quan đến Biển và Sóng được nhiều người yêu thích đó là cố nữ thi sỹ Xuân Quỳnh (1942 – 1988). Xuân Diệu, nhà thơ tình nổi tiếng của phong trào thơ mới, với sự phóng khoáng đa tình cũng đã "mượn hình tượng sóng” để nói lên tình cảm nồng nàn, mãnh liệt của mình:

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi, hôn lại

Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt…

Còn với Xuân Quỳnh, nữ thi sỹ với nhiều bài thơ tình nổi tiếng như “Thuyền và biển” thì con sóng trong thơ của chị vừa “Dữ dội’ lại vừa “dịu êm” vừa “Ồn ào” lại vừa “lặng lẽ“ như chính tính cách của người phụ nữ vậy. Bên ngoài có khi họ thật lặng lẽ, đằm thắm, dịu dàng nhưng bên trong lại ẩn chứa một tâm hồn khao khát yêu thương, với tình yêu mãnh liệt, dữ dội biết bao. Xuân Quỳnh đã rất tài tình khi đưa cặp đôi phạm trù nội dung có tính đối nghịch đi liền nhau nhằm tạo ra sự so sánh giữa cái mạnh mẽ, ồn ào và cái dịu êm, lặng lẽ qua đó nhằm diễn tả tính cách đan xen, đa chiều của người phụ nữ, nhất là khi họ đang yêu.Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nỗi mình

Sóng tìm ra tận bể

Chúng ta còn cảm nhận, đằng sau ý nghĩa ấy là thể hiện của sự giằng xé về tâm trạng của người phụ nữ, vì khi yêu phụ nữ thường phải hy sinh, chịu đựng nhiều hơn. Mà tình yêu thường cũng gặp nhiều trắc trở, không bao giờ bình yên, phẳng lặng, đôi lúc còn ẩn chứa nhiều dông bão.

Ôi con sóng ngày xưa

và ngày sau cũng thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

Tình yêu đối với Xuân Quỳnh vượt qua cả khuôn khổ của thời gian và không gian, điều đó nói lên rằng, nếu đích thực là tình yêu chân chính thì nó luôn vĩnh cữu, sống mãi với thời gian, khắc sâu vào tâm khảm, trí nhớ của con tim cho dù đó là quá khứ, hiện tại hay tương lai. Và tuy có nhiều cung bậc tình cảm khác nhau nhưng tình yêu thì muôn đời vẫn thế!

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về Anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

Đứng trước biển cả bao la, hùng vĩ nhà thơ thấy mình thật nhó bé và muốn được chiêm nghiệm lại cuộc sống, chiêm nghiệm về tình yêu. Từ những qui luật, hiện tượng tự nhiên của biển cả, nhà thơ đặt câu hỏi “Từ nơi nào sóng lên", “gió bắt đầu từ đâu?” và lại liên tưởng “Em cũng không biết nữa, khi nào ta yêu nhau”. Như nhà thơ Xuân Diệu cũng đã nói: “Nào ai định nghĩa được tình yêu”, Xuân Quỳnh cũng không thể cắt nghĩa nổi tình yêu. Chỉ biết rằng, tình yêu đến như một lẽ tự nhiên, thường tình. Đó là cơ duyên, là sự giao hoà, cộng hưởng về rung động cùng nhịp đập của hai con tim, mà không ai có thể sắp đặt hoặc cưỡng lại được.

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Có lẽ đây là khổ thơ mà tôi tâm đắc nhất trong cả bài thơ, tình yêu của người phụ nữ tuy mãnh liệt, mạnh mẽ là thế nhưng cũng rất e ấp, sâu kín, có khi được che giấu, ẩn chứa bên trong, như những con sóng ngầm dưới lòng đại dương, mà đã là sóng ngầm thì rất dữ dội, có thể gây nên dông bão!

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Sức mạnh tình yêu đã vượt lên cả qui luật tự nhiên của con người, thường khi ngủ là lúc mà người ta quên đi tất cả. Nhưng, với Xuân Quỳnh vì nỗi nhớ người yêu quá lớn, quá mạnh mẽ, luôn thường trực trong lòng, nên ngay cả trong giấc ngủ, giấc mơ nhưng vẫn thức để nhớ về Anh! Cái hay, cái tài tình là ở chỗ đó. Nếu như Xuân Quỳnh nói trong giấc mơ Em gặp Anh thì đó lại là chuyện thường tình, vì bất cứ ai cũng có thể làm được điều đó. Bởi lẽ, khi trong lòng người ta nghĩ nhiều đến một ai đó, nghĩ nhiều về một điều gì đó thì lúc ngủ người ta thường mơ thấy nó. Nhưng có lẽ , “trong mơ" mà “còn thức” vì quá nhớ Anh thì chỉ có mỗi Xuân Quỳnh!

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh - một phương.

Đất có bốn mùa: Xuân – Hạ – Thu – Đông; trời có bốn hướng: Bắc – Nam – Đông – Tây. Nhưng với người phụ nữ khi yêu thì chỉ có một hướng duy nhất, đó là: Anh! Dù làm gì, ở đâu, ở chân trời góc bể nào họ cũng luôn hướng về người mình yêu, sống tốt, sống đẹp cho nhau. Tình yêu của người phụ nữ thật cao thượng và bao dung, đó còn là sự hy sinh, thủy chung son sắt, đợi chờ khi xa người yêu.

Ở ngoài kia đại dương

Muôn vàn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

Tình yêu dù mãnh liệt, dữ dội đến mấy cũng không thể vượt qua qui luật khắc nghiệt của cuộc đời, cũng có lúc gặp phải trắc trở, chia ly, đó là lẽ tất nhiên. Nhưng không vì thế mà tình yêu mất đi vẻ đẹp vĩnh hằng, hay sớm bị lãng quên; mà qua năm tháng, càng nhiều thử thách tình yêu ấy càng lớn lên, thắm thiết, sâu sắc hơn. Dù có thể, tình yêu ấy, như những con sóng ngoài khơi xa không thể đến được bến bờ của hôn nhân, hạnh phúc nhưng đó cũng sẽ là một ký ức, kỷ niệm đẹp trong đời của mỗi con người, nếu chúng ta biết nâng niu, trân trọng, gìn giữ, như một món quà quí giá mà cuộc sống đã ban tặng cho ta!

>> Xem thêmSo sánh quan niệm về thời gian của Xuân Quỳnh và Xuân Diệu

Cảm nhận bài thơ Sóng - Bài văn mẫu 5:

Trong nền văn học Việt Nam, Xuân Quỳnh là một gương mặt thơ tiêu biểu trong thế hệ trẻ những năm tháng chống Mĩ với những đóng góp nổi bật qua các tác phẩm thể hiện tiếng nói trữ tình của tuổi trẻ. Tiếng thơ của Xuân Quỳnh luôn giàu vẻ đẹp nữ tính qua trái tim và tiếng lòng tha thiết với những hạnh phúc bình dị đời thường gắn với những dự cảm, lo âu. Điều này đã được thể hiện rõ thông qua thi phẩm “Sóng” - một trong những bài thơ tình nổi tiếng góp phần khẳng định vị trí “nữ hoàng thơ tình Việt Nam” của thi sĩ.

Trong tác phẩm, sóng và em là hai hình tượng trung tâm cùng song hành, có lúc tách biệt, có lúc quyện hòa để thể hiện những cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình về tình yêu, về hạnh phúc đời thường. Bài thơ đã thể hiện tình yêu của trái tim người phụ nữ vừa hiện đại, mới mẻ vừa đậm chất truyền thống. Qua hình tượng sóng, trước hết nhà thơ đã tái hiện thành công những trạng thái đối cực trong sự mâu thuẫn của tình yêu:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

Thông qua việc miêu tả trạng thái của những con sóng biển đang ngày đêm vỗ vào bờ, tác giả đã tái hiện sự thay đổi của tâm trạng người phụ nữ trong tình yêu: lúc ồn ào dữ dội, khi sâu lắng dịu êm. Đó chính là biểu hiện quen thuộc của một trái tim yêu chân thành, mãnh liệt. Bởi vậy, tình yêu đó không chịu sự gò bó trong không gian chật hẹp mà luôn đi theo tiếng gọi của trái tim để vươn tới hạnh phúc:

“Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Giống như những con sóng tự do vùng vẫy nơi đại dương xanh thẳm, ngày đêm vỗ sóng hòa mình vào nhịp thở của biển cả bao la, người con gái khi yêu cũng sẵn sàng vượt qua tất cả để kiếm tìm tâm hồn đồng điệu và tình yêu đích thực. Qua đó chúng ta có thể thấy được khát vọng hạnh phúc thường trực mạnh mẽ trong trái tim người phụ nữ. Đây chính là yếu tố tạo nên vẻ đẹp độc đáo và riêng biệt, hiện đại, mới mẻ trong những vần thơ viết về tình yêu. Nếu như trong thơ ca xưa, hình tượng người phụ nữ luôn hiện lên qua sự cam chịu, nhẫn nhục: “Thân em như hạt mưa sa - Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày” thì người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh đã mạnh mẽ phá bỏ mọi chiều kích chật hẹp, tù túng để vươn tới không gian khoáng đạt của tình yêu.

Vẻ đẹp hiện đại trong những vần thơ của “Sóng” còn được thể hiện thông qua trái tim đa sầu đa cảm và tấm lòng trắc ẩn, dự cảm lo âu của người phụ nữ đang yêu:

“Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

Đồng thời, những  nhịp thơ trải dài nhịp nhàng theo nhịp sóng vỗ còn nhấn mạnh khát vọng của nữ sĩ:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

Nữ sĩ Xuân Quỳnh đã sử dụng số từ ngàn - trăm để diễn tả khát vọng vĩnh cửu hóa tình yêu đôi lứa thông qua việc hóa thân vào những ngọn sóng ngoài khơi xa. Khát vọng lớn lao đó đã thể hiện trái tim yêu say đắm, chân thành luôn thường trực trong tâm hồn người phụ nữ. Bên cạnh vẻ đẹp mang tính hiện đại, những vần thơ của Xuân Quỳnh còn gợi lên những cảm nhận sâu xa về vẻ đẹp tình yêu truyền thống qua việc thể hiện nỗi nhớ mong da diết:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

Nếu như những con sóng là yếu tố tạo sự độc đáo của biển cả thì nỗi nhớ chính là đặc trưng nổi bật gắn với tình yêu đôi lứa. Bởi vậy, trong kho tàng ca dao Việt Nam, có rất nhiều câu thơ viết về nỗi nhớ:

“Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai”

Hay:

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than”

Qua những câu ca dao dạt dào tình cảm, độc giả có thể thấy được tình yêu luôn gắn với nỗi nhớ. Đến với những câu thơ của Xuân Quỳnh, nỗi nhớ được giãi bày một cách trực tiếp: “Lòng em nhớ đến anh - Cả trong mơ còn thức”. Nỗi nhớ đã đi sâu vào tiềm thức của người phụ nữ và trở thành biểu hiện cao nhất thể hiện tình yêu đằm thắm, tha thiết và chân thành.

Và cũng như người phụ nữ truyền thống, tình yêu đối với Xuân Quỳnh luôn gắn liền với sự thủy chung son sắt:

“Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”

Qua cách nói sáng tạo “xuôi về phương Bắc/ ngược về phương Nam”, tác giả đã khẳng định sự thủy chung son sắt trong tình yêu có thể vượt qua mọi chiều kích, giới hạn không gian. Hai tiếng “một phương” vang lên đã như một lời thề nguyện thiêng liêng về tình yêu duy nhất vẹn tròn, tha thiết. Qua đó, độc giả có thể thấy được khát vọng cháy bỏng của nữ sĩ về hạnh phúc, tình yêu.

Như vậy, qua kết cấu song hành bằng việc sử dụng hai hình tượng “sóng” và “em” vừa quyện hòa, vừa tách biệt, tác giả Xuân Quỳnh đã diễn tả về một tình yêu vừa mang vẻ đẹp hiện đại mới mẻ, vừa đậm chất truyền thống qua lăng kính độc đáo của người phụ nữ say đắm trong tình yêu. Bằng thể thơ năm chữ cùng cách ngắt nhịp linh hoạt, nữ sĩ đã tạo nên một bài ca bất hủ về tình yêu gắn với niềm thương, nỗi nhớ và hạnh phúc bình dị đời thường.

Cảm nhận bài thơ Sóng - Bài văn mẫu 6:

Đọc thơ của Xuân Quỳnh lúc nào cũng thấy tình yêu của nữ sĩ mãnh liệt đậm sâu lắm. Có lúc như thuyền với biển chẳng chia lìa, đôi khi lại nhẹ nhàng man mác trong cái gió lạnh mùa thu. Sóng cũng vậy, cả bài thơ là thứ tình yêu mãnh liệt sâu sắc, đọc bài ta như chìm trong những cơn sóng tình yêu dạt dào, đôi lúc lại ngơ ngác, hồn nhiên, như tấm lòng người con gái trẻ tràn đầy hi vọng về một tình yêu vĩnh cửu, ngọt ngào.

Hình tượng sóng và “em” là một phép ẩn dụ tuyệt vời, em như con sóng xô bờ, nhào vào lòng anh với tình yêu cháy bỏng, nồng nàn. Tâm trạng khi yêu và được yêu của người con gái nó lạ lùng lắm, lúc thì ồn ào, nhiệt tình, cứ níu lấy tay người thương mà thủ thỉ, chuyện trò. Nhưng có những ngày lại thấy chàng trai gãi đầu gãi tai, tự hỏi : “Mình đã làm gì sai?”, nguyên nhân chỉ vì bỗng thấy em dịu dàng, lặng lẽ quá, chẳng giống em chút nào. Như cơn sóng lúc này lúc kia “Ồn ào và lặng lẽ/ Dữ dội và dịu êm”. Chẳng ai cắt nghĩa nổi, cái tâm sự, tiếng lòng của phụ nữ đặc biệt trong tình yêu lại càng phức tạp, rối rắm, nhiều người cứ cười nghĩ, ôi tâm sự phụ nữ khác nào nắm tơ vò!

Tư tưởng về tình yêu của Xuân Quỳnh tiến bộ và cởi mở như con sóng vậy, “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”, bà nghĩ tình yêu nếu giấu giếm e ngại thì tình yêu còn đâu là thăng hoa là hạnh phúc, quyết không để như thế được, bà đem thứ tình yêu ấy giãi bày vào thơ văn, những vần thơ dạt dào cảm xúc, thế giới văn chương chính là biển của bà, nơi ấy chẳng phải giấu điều gì, tình yêu cũng vậy. Những câu thơ như động lực, lời khuyên cho thế hệ phụ nữ thời bấy giờ, đừng khư khư ôm lấy tình yêu mãi thế, mở lòng và bày tỏ đi, các cô gái ạ, ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc, sao chúng ta lại không? Cái tôi trong tình yêu của nữ sĩ được thể hiện rất tinh tế và sâu sắc, vừa mềm mại uyển chuyển vừa là sức sống niềm tin yêu mạnh mẽ của người con gái.

Xuân Quỳnh khát vọng tình yêu lắm, vơí bà tình yêu là lẽ sống, nhưng bà không vội vàng, vồ vập như Xuân Diệu. Tình yêu của bà cứ chầm chậm, lúc cuồng nhiệt lúc êm đềm như làn sóng. Đặc biệt là cái đức tính cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam ta từ xưa đến nay vẫn thế, được tác giả khẳng định trong hai câu thơ “Ôi con sóng ngày xưa/Và ngày sau vẫn thế”. Sự thủy chung, sắt son một lòng trong tình yêu thật đáng quý, đáng yêu quá, dù năm tháng đổi thay, dòng đời xô đẩy con sóng ấy vẫn như hôm nào trở về vỗ vào bờ cát. Như tình yêu của người phụ nữ, vốn chịu nhiều thiệt thòi, nhưng chưa bao giờ có thể thay đổi được cái “Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ”, khao khát được yêu, được sống trong tình yêu nồng nàn, vẫn luôn bồi hồi trong trái tim ấm nóng, theo dòng máu đỏ lan tràn khắp cơ thể, rạo rực, đầy nhiệt huyết tuổi trẻ.

Tác giả từng đứng trước biển lớn và suy nghĩ về mối quan hệ giữa “anh” và “em”, về sóng và biển, nỗi băn khoăn trong tình yêu của người phụ nữ. Hầu như khi yêu người con gái nào cũng hỏi người mình yêu một câu tương tự như này: “Vì sao anh yêu em?” Rồi lại tự hỏi mình: “Ôi, sao xưa kia bao người tốt hơn giỏi hơn mình không chọn lại chọn anh ấy?”, nhưng liệu có ai trả lời được không? Tình yêu mà, làm gì có lý do, ta sẽ yêu nhau trong một khoảnh khắc nào đó, chỉ là cái liếc mắt đa tình của chàng trai hay nụ cười hé môi của cô gái, cũng đủ khiến đối phương chìm trong men say tình ái. Xuân Quỳnh trả lời được sóng bắt đầu từ gió, nhưng gió bắt đầu từ đâu thì nữ sĩ cũng chịu bó tay. Cũng như trong tình yêu, nữ sĩ ngẩn ngơ mà viết rằng: “Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau?”. Cái suy tư ấy vừa lãng mạn vừa là sự rối bời trong tình yêu của cô gái, cô ấy cần một câu trả lời, một câu trả lời đủ để có được cảm giác an toàn từ chàng trai. Khi “em” sống với tình yêu khắc khoải, hàng loạt nghĩ suy như ngàn con sóng dù ở lòng sâu hay mặt nước thì cũng chỉ nhớ tới một mình bờ cát, cũng như em chỉ có một mình anh mà thôi. Nỗi khổ tương tư chỉ những ai đã yêu mới thấu hiểu, nhớ đến “Ngày đêm không ngủ được”, nhớ đến “Cả trong mơ còn thức”. Tình yêu ấy to lớn, nỗi khát khao của cô gái trẻ chẳng biết đến bậc nào mà giấc mơ vẫn “còn thức”.

Nỗi yêu thương nhung nhớ, xuôi Bắc ngược Nam cũng chẳng chút nào vơi bớt, lòng “em” luôn “Hướng về anh một phương”, thủy chung tận cùng. Xuân Quỳnh so sánh tình yêu với trăm nghìn con sóng nước, sóng nào chẳng đổ về bờ, tình yêu cũng vậy nếu thật lòng thương yêu, chẳng khó khăn nào có thể chia lìa đôi lứa, người có lòng ắt sẽ gặp lại nhau bằng một cách thức nào đó, gọi là duyên phận chăng? Tác giả lại lấy cuộc đời đối với biển rộng, đời có dài mấy rồi năm tháng cũng trôi qua, tuổi xuân cũng chẳng còn, biển dẫu lớn nhưng mây vẫn bay về phương xa, đi khỏi tầm mắt biển.

Xuân Quỳnh có ý thức rất lớn về tuổi thanh xuân, về cuộc đời, về tình yêu, bà sống với tình yêu, với cái ước muốn dung dị đời thường. Bà có ước muốn lạ “Làm sao được tan ra/Thành trăm con sóng nhỏ”, Xuân Quỳnh “tham” lắm, một con sóng chẳng khiến bà thỏa mãn, chỉ muốn sao càng nhiều con sóng càng tốt, thế mới thỏa chí vẫy vùng với biển cả tình yêu, để tình yêu lưu lại muôn đời, để có tình yêu đậm sâu, vĩnh cửu.

Trong hoàn cảnh đất nước vào giai đoạn năm 1967 - 1968, chiến tranh miền Bắc ác liệt vô cùng, hàng vạn nam thanh nữ tú hăng hái ra chiến trường, những cuộc chia li vội vã, tiếc nuối, người đi kẻ ở, nửa buồn nửa vui. Nghe bài hát có câu thế này: “Sầu mà chi em? Lúc non sông cần trai hùng. Buồn mà chi em? Mai em về trong nắng êm.”. Gieo rắc vào lòng người con gái bao hi vọng đẹp đẽ, và thế là người con gái ôm tình yêu đắm say, chờ bóng người lính chiến quay về, tấm lòng trung trinh, kiên cường của người phụ nữ quả thật đáng quý biết bao. Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng có lẽ cũng ảnh hưởng ít nhiều từ những cuộc chia ly ấy, đâu phải chỉ riêng cảm xúc tình yêu của riêng mình bà.

Đọc thơ của Xuân Quỳnh thích lắm, thích vì cái hồn nhiên, yêu đời, thích vì cái mong ước về tình yêu lứa đôi thật dung dị, nhưng tràn đầy cảm hứng lãng mạn, bay bổng. Dù trong độ tuổi nào, nhưng ta có thể thấy rằng thơ Xuân Quỳnh viết về tình yêu vẫn vậy, vẫn tràn ngập hy vọng đẹp đẽ, thể hiện cái tôi của người phụ nữ Việt Nam trong tình yêu, cuộc sống. Nỗi khao khát yêu và được yêu lúc nào cũng mãnh liệt, trực chờ tuôn trào mạnh mẽ. Thơ của bà cũng ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam, thủy chung, son sắt, một lòng một dạ, hy sinh vì tình yêu. Tác giả sử dụng tài tình hình ảnh con sóng để nói thay cho tâm trạng người phụ nữ khi yêu, một hình ảnh vừa giản dị, dễ hình dung lại mang tính biểu tượng cao, đem lại cho bài thơ hiệu quả nghệ thuật và mạch cảm xúc dạt dào, việc thể hiện tâm tư của Xuân Quỳnh được trọn vẹn. Sóng – Bài thơ cho tình yêu của phụ nữ.

Cảm nhận bài thơ Sóng - Bài văn mẫu 7:

Đã có bao nhiêu người đã yêu, bao nhiêu người đang yêu và bao thơ tình yêu trên thế gian này! Vậy mà mỗi ngày lại mới. Tình yêu không có tuổi, thơ tình yêu lại càng không có tuổi bao giờ. Trên thế gian có biết bao nhà thơ tình yêu nổi tiếng: Rimbaud, Verlaire rồi Puskin, Byron... và mỗi người một vẻ, một sắc thái. Từ thuở thơ Đường, thơ Tống, từ thuở Nguyễn Du rồi Thế Lữ, Xuân Diệu và chúng ta ngày nay..., tình yêu vẫn là cái gì khiến người ta đam mê, khát khao. Xuân Quỳnh, nhà thơ của nỗi niềm yêu đương, với bài Sóng đã thể hiện được nhiều cung bậc tình yêu. Bài thơ của Xuân Quỳnh cất lên tình yêu nồng nàn của tuổi trẻ và khát vọng của con người đối với tình yêu. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không còn dừng lại ở quá độ tình yêu buổi đầu giản đơn, hò hẹn, non nớt, ngọt ngào mà là tình yêu hạnh phúc gắn với cuộc sống chung.

Trong những đoạn đầu của bài thơ, nhà thơ miêu tả "sóng" với những sắc thái, những cung bậc khác nhau để rồi từ đó nói tới quy luật của tình yêu. Tình yêu là sự dung hòa những sắc thái tình cảm tưởng chừng như đối lập. Tình yêu có quy luật tự nhiên của nó mà lý trí không giải thích được. Người ta tìm đến với tình yêu, soi mình vào tình yêu để tự nhận ra chính bản thân mình:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Bốn câu thơ mở đầu bài thơ chẳng có chữ nào dính dáng đến tình yêu, nhưng đọc khổ thơ lên thì bao trùm tất cả là cảm xúc yêu đương. Dường như tình yêu ẩn náu đằng sau câu chữ ấy. Có gì thật là xôn xao nhiệt thành mà thật là trầm lắng. "Dữ dội", "ồn ào" để rồi "dịu êm", "lặng lẽ" - tình yêu là ở đấy và tình yêu là như thế. Tưởng như đối lập, tưởng như mâu thuẫn mà lại là thống nhất trong tâm trạng yêu đương. Đâu chỉ là sóng, là nước - hồn người đang yêu đó... và tình yêu mãi là cái gì mà người ta không hiểu nổi:

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Rõ ràng đó không phải là tình yêu buổi đầu giản đơn, hò hẹn, non nớt, ngọt ngào nữa. Đây là con đường tất yếu trong thiên nhiên, sóng phải tìm ra bể nhưng đây cũng là quy luật tất yếu của tình cảm: con người đi tìm "cái nửa" lớn lao để họ hoàn thiện mình. Đến khổ thơ sau, ý tứ rõ ràng hơn:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

Khổ thơ này là sự khai triển tứ thơ trước. Bao nhiêu thế hệ đã qua, những cuộc hành trình đau khổ, vui sướng những niềm xót xa cùng hạnh phúc ngập tràn - tất cả điều đó vì khát vọng tình yêu. Thuở Adam - Eva, thuở con người mông muội và hiện đại... tình yêu là điểm sáng vĩnh cửu cho con người hướng tới mà sống, chiến đấu, lao động. Có gì trên cõi đời này thay được trái tim cũng như tình yêu có bao giờ không còn nữa!

Ta bắt gặp trong bài thơ một tình yêu khỏe khoắn, hồn nhiên. Tình yêu của tuổi trẻ ngập tràn sức sống vô bờ bến. Không phải thứ tình yêu bi lụy thê lương "yêu là chết trong lòng một ít" như thơ Xuân Diệu trước Cách mạng mà đây là một tình yêu dám sống, dám yêu, tình yêu chan chứa tình yêu nhiệt thành. Chẳng để tượng trưng cho tình yêu của mình:

Sóng bắt đầu từ gió

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Đây là thơ tình của người đang yêu chứ không phải là thơ tình của người nhìn người khác yêu, bởi chỉ có người đang yêu mới diễn tả những xúc cảm tình yêu đúng như vậy. Nỗi nhớ nhung, rồi nơi tình yêu đến... có ai biết được yêu khi nào và có ai biết được sóng từ đâu đến! Xuân Quỳnh nói hộ tâm trạng đang yêu của bao người:

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Hình ảnh "sóng" tượng trưng rất độc đáo mà vô cùng sâu lắng. Chỉ có sóng mới đêm ngày trào dâng, trái tim yêu đêm ngày cũng vậy. Cái hồn hậu, cái đắm say, cái tha thiết nhất được biểu hiện bằng hình tượng thơ này. Lấy sóng để nói nỗi nhớ, nói tình yêu thì không hẳn chỉ có Xuân Quỳnh nhưng quả là đến Xuân Quỳnh thì hình tượng thơ này trở nên mới mẻ bao nhiêu. Con sóng ấy có tình yêu, có niềm nhớ nhung nhưng mang lại thêm nhân hậu, dịu dàng của người phụ nữ và đấy là bản sắc riêng của Xuân Quỳnh. Nỗi nhớ nhung của con sóng cũng là nỗi nhớ nhung của bao người mình yêu. Tâm trạng nhớ nhung của Xuân Quỳnh cũng là tâm trạng của bao người đang yêu:

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Cuộc sống của Xuân Quỳnh cũng giống cuộc sống của bao người khác, hạnh phúc của Xuân Quỳnh cũng là hạnh phúc của bao người khác:

Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Hướng về anh một phương.

Đọc khổ thơ cuối làm ta nghĩ về khổ thơ khác của Xuân Quỳnh:

Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Là máu thịt đời thường ai chẳng có,

Biết ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa

Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

Có gì rất gần gũi giữa những câu thơ ấy vì cả hai khổ thơ tuy không cùng bài nhưng lại là sự khẳng định tình yêu. Một tình yêu đẹp thì bao giờ cũng là một tình yêu biết vượt qua những khó khăn, thử thách, biết đấu tranh để bảo vệ những ước mơ, những khát vọng chân chính, biết tin tưởng vào tương lai của cuộc sống, tin tưởng vào hạnh phúc của mình và của mọi người. Và một tình yêu thủy chung son sắt thì bao giờ nỗi nhớ cũng có một điểm dừng, đó là người mình yêu:

Ở ngoài kia đại dương

Trăm ngàn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vàn cách trở

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn qua đi

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

Xuân Quỳnh ý thức được những vất vả nhọc nhằn trong cuộc hành trình đến với hạnh phúc, nhưng là người có trái tim lớn nên Xuân Quỳnh lại có niềm tin mãnh liệt vào tình yêu. Đây là sức mạnh tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh, cái sức mạnh mà chẳng phải tình yêu nào cũng có được, sức mạnh của niềm tin. Tin yêu rồi không phải hết mơ, dẫu tận cùng con đường kia là hạnh phúc, và Xuân Quỳnh đã đi hết con đường đó thì chị vẫn ước mơ. Niềm tin trong thơ chị lớn lao bao nhiêu thì ước mơ cũng lớn bấy nhiêu:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

Ước mơ tình yêu là vĩnh cửu, đến ước mơ cũng mang hình bóng của người tình nhân đắm say. Ở đây, Xuân Quỳnh có gì rất gần với "biển" của Xuân Diệu. Chất đam mê mãnh liệt toát ra từ từng câu chữ khi Xuân Diệu viết:

Đã hôn rồi lại hôn

Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt

Nhưng Xuân Diệu còn có một ngày sẽ "thôi dào dạt" còn Xuân Quỳnh thì "ngàn năm còn vỗ", vẫn cái chất đam mê mãnh liệt ấy nhưng thêm vào đó là sự lắng đọng suy tư. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh có thêm chiều sâu của sự hòa nhịp tuyệt đối. Như vậy, ai dám bảo tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh non nớt, giản đơn, ngọt ngào! Tình yêu trong thơ chỉ là nỗi khát khao, là sự chất chứa chiều sâu tâm hồn, là tình yêu hạnh phúc với cuộc sống chung. Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng là tình yêu sâu lắng của bao người khác đã yêu, đang yêu và sắp yêu.

Đầy đủ sắc thái của tâm trạng người đang yêu nỗi khát khao, niềm đam mê bất tận, nỗi nhớ nhung cùng sự sôi nổi và suy tư lắng đọng... rồi cả ước mơ, Xuân Quỳnh đã diễn tả thật tinh tế và tài hoa trong bài thơ "Sóng". Sau này, ta sẽ bắt gặp một Xuân Quỳnh tha thiết, một Xuân Quỳnh nồng nàn, một Xuân Quỳnh nhân hậu trong nhiều bài thơ nữa. Nhưng rõ ràng, ở bài Sóng, Xuân Quỳnh đã bộc lộ khá đầy đủ phong cách thơ của mình. Giữa những năm chiến tranh đầy máu lửa, thơ tình Xuân Quỳnh làm người ta tin vào sự sống, tin vào con người hơn nữa. Thơ tình Xuân Quỳnh mang lại khoảng bình yên cho tâm hồn người đọc, mang lại tình yêu cho đôi lứa đang yêu.

Tham khảo thêm:

-------------------------------

   Trên đây là tài liệu hướng dẫn chi tiết cách làm bài cảm nhận về bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh). Các em có thể đọc tham khảo để hoàn thành tốt bài làm của mình nhé. Đừng quên xem thêm nhiều tài liệu Văn mẫu 12 được cập nhật đầy đủ tại doctailieu.com nhé. Chúc các em học tốt và đạt kết quả cao!

Bạn còn vấn đề gì băn khoăn?
Vui lòng cung cấp thêm thông tin để chúng tôi giúp bạn
Hủy

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM