Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

Xuất bản ngày 22/04/2019 - Tác giả: Giangdh

Văn mẫu 11 bình giảng bài thơ Tương tư của nhà thơ Nguyễn Bính, những bài văn mẫu hay bình giảng về bài thơ Tương tư...

Bình giảng Tương tư, phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính, qua đó cảm nhận sâu sắc hơn tình yêu đôi lứa, những cung bậc cảm xúc ngọt ngào của tình yêu mà tác giả muốn bộc lộ.

Dàn ý bình giảng bài thơ Tương tư

1. Mở bài: 

Khái quát về tác giả Nguyễn Bính và bài thơ Tương tư
  • Nguyễn Bính là một nhà thơ nổi tiếng, ông có rất nhiều tác phẩm hay, trong đó Tương tư là một trong những bài thơ như thế, với ngôn ngữ nhẹ nhàng, tinh tế, tác phẩm đã để lại cho người đọc nhiều xúc cảm sâu sắc.

2. Thân bài:

Bài thơ đã mang những dòng cảm xúc, nỗi nhớ thương sâu sắc của tác giả được thể hiện trong tác phẩm, đó là những cung bậc, cảm xúc, ngập tràn những nỗi nhớ mong, những lời trách móc nhẹ nhàng và ước nguyện xa xôi của người thi sĩ.

  • Tương tư là tác phẩm thể hiện những cảm xúc sâu sắc của người thi sĩ trong tình yêu, đó là cảm xúc nhẹ nhàng, những nỗi nhớ và cung bậc trong tình yêu, sự tương tư, những cảm xúc rất đỗi thân thương trong tình yêu.
  • Sự tương tư của nhân vật trong tình yêu nhẹ nhàng và vô cùng sâu lắng, cung bậc trong tình yêu đó là những lời trách móc nhẹ nhàng của đôi lứa: Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này? - Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
  • Hơn nữa tác giả cũng thể hiện những cảm xúc đợi chờ, mong mỏi của đôi lứa, những cảm xúc ngày càng được biểu hiện rõ ràng, nỗi nhớ, sự chờ mong thể hiện sự đợi chờ, mong mỏi của đôi lứa khi đến với tình yêu, cảm xúc đó vô cùng da diết và thể hiện sự chân thành trong tình yêu lứa đôi.
  • Những khát khao, mơ ước đến với tình yêu, sự khát khao, mơ tưởng về tình yêu chân thành, trong sáng: Bao giờ bến mới gặp đò?/ Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau? Mơ ước được gặp nhau, được đến bên nhau trong tình yêu, những nỗi niềm đó đã thể hiện những khao khát, ước vọng về một tương lai tươi sáng…
  • Những nỗi nhớ, cảm xúc trong tình yêu lứa đôi đó thể hiện những khát vọng được thể hiện trong tác phẩm, nỗi nhớ da diết cùng với sự tương tư trong cảm xúc của chính tác giả về tình yêu.
  • Với cách bày tỏ sâu sắc, cùng với giọng điệu thơ nhẹ nhàng, cách ví von trong bài thơ cũng mang những nỗi nhớ da diết và sự chân thành sâu sắc, ở đó con người được tận hưởng những khoảng không gian nhẹ nhàng, sâu lắng.
  • Cách bày tỏ đầy tế nhị, tự nhiên và mang những ý nghĩ chân thành, mộc mạc trong tâm hồn người con trai.

3. Kết bài:

  • Với lời thơ nhẹ nhàng, tác giả đã thể hiện những xúc cảm sâu sắc trong tâm hồn người con trai, con gái. Đó là cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng, ngập tràn tình yêu thương và mang nhiều xúc cảm tới con người. Ở đó con người được sống trong những tình cảm riêng và nhiều giá trị to lớn đối với người đọc.

Tham khảo thêm dàn ý phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính để có cái nhìn khách quan và chi tiết hơn khi viết bài văn phân tích và văn cảm nhận.

Văn mẫu bình giảng bài thơ Tương tư của nhà thơ Nguyễn Bính

Dưới đây là một số bài văn mẫu hay bình giảng bài thơ Tương tư mà Đọc Tài Liệu đã sưu tầm được, các em có thể đọc tham khảo để có thêm ý tưởng nội dung cũng như mở rộng vốn từ ngữ khi làm bài.

Bài bình giảng Tương tư của học sinh giỏi văn

Nếu như phong trào thơ lãng mạn 1930 - 1945 đã từng có một Huy Thông hùng tráng, một Lưu Trọng Lư mơ màng... và đặc biệt là một Xuân Diệu sôi nổi, táo bạo “mới nhất trong các nhà thơ mới” thì cũng đã từng có một Nguyễn Bính “Chân quê”. Thơ Nguyễn Bính như một bông hoa đồng nội nhẹ nhàng, giản dị, mộc mạc, kín đáo len vào hồn ta, giữa một vườn hoa sắc màu rực rỡ. “Tương tư” của Nguyễn Bính cũng là một bông hoa như vậy, một bài thơ bộc lộ nỗi niềm của những ai biết yêu và biết thế nào là “tương tư”.

“Tương tư”, nói một cách đơn giản là người ta nhớ về nhau khi yêu, thông thường là tình cảm đơn phương. Nhưng cũng như nhiều phạm trù tình cảm khác, khó mà định nghĩa cho rõ ràng, ví như Nguyễn Công Trứ đã từng băn khoăn:

Tương tư không biết cái làm sao

Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào?

Ở Nguyễn Bính, người ta bắt gặp một cách nói khác:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Với cách nói hoán dụ “thôn Đoài, thôn Đông” hoặc xưng hô vô định “một người”, Nguyễn Bính đã kín đáo giải thích cho sự “không biết cái làm sao ấy”: Tương tư, ấy chính là “chín nhớ mười mong” - một thành ngữ dân dã, giản dị đã đủ sức bao quát một nỗi nhớ vừa chân thật, vừa là cái dài dằng dặc của thời gian chờ đợi:

Nắng mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

“Nắng” và “mưa” là những hiện tượng đơn thuần của thiên nhiên, song ở đây, những từ ngữ này đã nhẹ nhàng, duyên dáng đậu xuống câu lục để làm nổi bật lên sự liên tưởng, ví von ý nhị và kín đáo của câu hát: Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Như vậy, tương tư không còn chỉ là nỗi nhớ mà đã trở thành một chứng “bệnh” nan y của thi sĩ đa tình - một thứ “bệnh tinh thần” đặt tự nhiên trong sự so sánh với “bệnh nắng mưa” của đất trời.

Chỉ bằng bốn câu đầu, Nguyễn Bính đã định nghĩa khái quát sự tương tư: đó là nỗi nhớ nhung và cả đau buồn, sầu não của kẻ đang yêu một cách đơn phương. Ở những câu sau, tác giả tiếp tục diễn giải những tình cảm, suy nghĩ của kẻ mắc “bệnh nắng mưa” đó:

Hai thôn chung lại một làng

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

Khi yêu, người ta vẫn thường anh hay nghi ngờ, băn khoăn, cũng như chàng trai trong bài thơ thắc mắc: “Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”. Rõ ràng toàn bài thơ là lời một mình anh độc thoại và câu hỏi kia đáng lí ra anh tự hỏi mình. Tuy nhiên, ta có thể rõ ràng nhận thấy đó là câu hỏi dành cho cô gái mà anh yêu thầm nhớ trộm, dù rằng ở đây thi sĩ chỉ xưng hô “bên ấy” với “bên này”. Cách gọi kín đáo và dân dã ấy quả thật rất gần gũi với ca dao, tục ngữ, song tình cảm yêu thương và nhớ nhung của chàng trai được bộc lộ ở đây không kém phần tha thiết, nồng nàn. Với người đang yêu, đang tương tư, thời gian thật dài đằng đẵng, có cảm tưởng như “Ba thu dọn lại một ngày dài ghê” (Nguyễn Du).

Nguyễn Bính cũng diễn tả cảm giác đó bằng câu thơ: “Ngày qua ngày lại qua ngày”. Có đến ba từ “ngày” được dùng trong câu thơ chỉ có sáu chữ, song sự lặp lại ấy không hề gây ấn tượng dài dòng, buồn chán mà ngược lại, nó có tác dụng không nhỏ đối với ý thơ. Những từ “ngày” lần lượt đi qua câu thơ như thời gian vô tình cứ trôi thật chậm trước mắt chàng trai đang tương tư, kéo dài thêm mãi nỗi buồn và nỗi nhớ trong anh. Đó là thời gian của tâm lí chờ mong đến mòn mỏi. Nỗi buồn nhớ ở đây còn được khắc họa qua sự đổi thay của sắc lá: “lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”. Yêu và tương tư, nghĩa là đồng nghĩa với buồn thương, nhớ nhung và thấp thỏm chờ mong.

Chàng trai buồn bã vì tình yêu chưa được đáp lại. Nỗi buồn và sự chờ mong tưởng chừng như vô vọng ấy tất yếu sẽ dẫn đến sự trách móc, dỗi hờn:

Bảo rằng cách trở đò giang

Không sang là chẳng đường sang đã đành

Nhưng đây cách một đầu đình

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?

Những lí do mà chàng trai đưa ra để trách móc cô gái rất hợp lí, rất thực tế. Nào là không “cách trở đò giang”, nào là “Hai thôn chung lại một làng” và “cách một đầu đình”, vậy mà tình cảm của anh vẫn không được hồi âm. Khoảng cách địa lí thật gần mà sao khoảng cách lòng người lại xa xôi đến vậy! Chàng trai trách móc thật nhiều, nhưng phải chăng là để xoa dịu nỗi buồn thương, làm dịu đi căn bệnh tương tư của mình? Rõ ràng giọng điệu trong câu thơ vừa rồi là giận hờn, trách cứ, xong chàng phải hiểu rằng đó không là những lời buộc tội. Lời lẽ của chàng trai như ẩn chứa sự trìu mến, thân thương của một tình yêu nồng nàn, tha thiết. Và dù trách móc, anh vẫn thú nhận:

Tương tư thức mấy đêm rồi

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?

Vẫn là cách xưng hô vu vơ, kín đáo với “ai”, “người” nhưng luôn hướng tới một đối tượng cụ thể. Câu hỏi ở đây, cũng như những từ “bảo rằng”, “đã đành”, “nhưng”... đầy tính chất suy luận của kẻ đang yêu, cố tìm ra câu trả lời, cách giải quyết, nhưng cũng không thể nào hết băn khoăn, thắc mắc. Và chàng trai cũng chỉ có một cách chờ đợi:

Bao giờ bến mới gặp đò

Hoa khuê, các bướm giang hồ gặp nhau?

Ở đây lại bắt gặp những hình ảnh ẩn dụ “bến”, “đò” mang đầy tính chất ca dao, dân gian... Và bằng những cụm từ như “hoa khuê các”, “bướm giang hồ” thi sĩ dường như tế nhị cho người ta ngầm hiểu về những khó khăn, cản trở dẫn đến một mối tình ngang trái. Đến đây, người ta có thể suy luận rằng những dòng tiếp sau sẽ là nỗi buồn, sự đau khổ ở mức độ cao hơn của chàng trai. Song Nguyễn Bính lại đưa ý thơ rẽ sang một hướng khác hẳn với đau buồn, sầu não:

Nhà em có một giàn giầu

Nhà tôi có một hàng cau liên phòng

Từ câu chuyện trầu cau đến tập tục của người Việt Nam, hình ảnh “trầu cau” là biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi, miếng trầu vẫn là “đầu câu chuyện” trong các buổi cưới hỏi, bắt nguồn cho mối tơ duyên dài “răng long đầu bạc”. Nói đến trầu cau ở đây, Nguyễn Bính đã kín đáo để nhân vật trữ tình của mình bộc lộ những ước mơ sâu xa, thầm kín. Như ngày xưa, chàng trai trong ca dao từng mượn trầu cau để thổ lộ tình yêu trong sáng, nhiệt thành:

Giúp em quan tám tiền treo

Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau

Hình ảnh “trầu cau” được đưa vào đầy duyên dáng, ý nhị, hợp với mạch ngầm của ý thơ và tâm trạng của nhân vật trữ tình. Bởi khi yêu, người ta không mong ước gì hơn là được sống hạnh phúc bên người mình yêu. Chàng trai của bài thơ “Tương tư” đã gửi gắm trong hình tượng “trầu cau” một ước mơ trong sáng, một khát vọng hạnh phúc trong tình yêu, cuộc sống. Bài thơ kết thúc bằng câu:

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông 

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? 

Chàng trai vẫn thắc mắc, băn khoăn và nhớ nhung, song không đi theo chiều hướng tiêu cực mà lấp lánh sáng lên một mong chờ về cuộc sống lứa đôi hạnh phúc sau này - một khát vọng tốt đẹp của con người tự ngàn đời.

Bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính đưa ta vào thế giới cảm xúc và tâm hồn của những người đang yêu và biết thế nào là “tương tư”. Bao trùm toàn bài là những tình cảm yêu thương chân thành, kín đáo, nhẹ nhàng, nhẹ nhàng từ cách thể hiện nỗi nhớ nhung, âu sầu đến cả khi hờn giận, trách móc của nhân vật trữ tình. Bổ sung và làm toàn vẹn cho bài thơ, Nguyễn Bính đã sử dụng tài tình thể thơ lục bát. Bên cạnh cách nói hiện đại khi tác giả viết “tôi” với “nàng”, “anh” và “em”, ta vẫn thấy phần lớn trong bài thơ là “bên ấy”, “bên này”, là “thôn Đoài” với “thôn Đông”... và biết bao cách nói ý nhị khác nữa mang đậm tính chất trữ tình dân gian. Do đó, “Tương tư” thấm đẫm hồn ca dao dân tộc, dân dã mà giàu sức gợi, giản dị mà vẫn đầy sự trân trọng, kín đáo mà vẫn rõ ràng. Điều đáng nói nữa là với lớp vỏ và phần hồn ca dao ấy, Nguyễn Bính đã lồng vào đó là tiếng nói của Thơ mới hiện đại với những tình cảm, suy nghĩ mang tính chất thời đại của dòng thơ lãng mạn.

Tuy nhiên, chất ca dao, dân ca trong “Tương tư” nói riêng và thơ Nguyễn Bính nói chung vẫn là đặc điểm rõ ràng nhất để phân biệt với thơ của các thi sĩ khác. Cái chất lãng mạn đồng quê ấy sẽ còn chảy hoài, chảy mãi trong sâu thẳm tâm hồn, hòa cùng mạch ngầm tâm trạng của con người Việt Nam, đúng như Hoài Thanh đã từng nhận định: “Thơ của Nguyễn Bính đã đánh thức con người nhà quê ẩn náu trong ta. Ta bỗng thấy vườn cau, bụi chuối là toàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta”.

Đến với “Tương tư”, là ta đã đến với thế giới riêng tư của tâm hồn, đến với “cái tôi” khi yêu hết sức phức tạp, phong phú và tế nhị. Song điều quan trọng hơn, đến với thơ Nguyễn Bính là để gặp gỡ một tâm hồn nghệ sĩ tài hoa, lãng mạn, chan chứa yêu thương và cũng là trở về với mạch ngầm dân tộc, vẫn hằng ngày đập chảy trong ta.

Bình giảng bốn câu cuối bài thơ Tương Tư - Nguyễn Bính

Top 2 bài bình giảng Tương tư hay

Bài mẫu 1

Tương tư là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tâm hồn và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính. Bài thơ viết về đề tài khá quen thuộc trong đời sống và văn chương: sự tương tư, tức một trạng thái tình cảm nam nữ khi yêu nhau, hoặc phải xa cách, hoặc không được đáp lại. Nhà thơ lại sáng tác bằng thể thơ cũng rất quen thuộc - lục bát.
Song, để bài thơ có thể sống dài lâu trong lòng bạn đọc không phải là chuyện dễ. Tương tư của Nguyễn Bính vừa có vẻ thân quen như một làn điệu dân ca khiến bao người thuộc lòng. Thậm chí trở thành một bài hát ru em, vừa mang tâm tình mới của thanh niên thời bấy giờ.

Nói cách khác, Tương tư cũng như rất nhiều bài thơ khác của Nguyễn Bính trước năm 1945, đậm đà chất dân tộc, trong điệu tâm hồn, cả trong lối diễn đạt, nhưng lại là tiếng thơ của một thời đại mới. Vì thế, khi bình giảng cần biết rằng tương tư là nỗi nhớ, là tâm trạng của một chàng trai đối với một cô gái. Cô gái ấy vô tình, hay hữu ý không biết nỗi lòng ấy. Tình cảm của chàng trai rất đỗi tha thiết. Tương tư là một thứ bệnh của tình yêu. Chàng trai ấy đang mang bệnh đó. Anh ta buồn, anh ta nhớ, anh ta thao thức và cả trách móc nữa, nhưng là sự trách móc của một người đang yêu nên cũng rất đáng yêu:

Bảo rằng cách trở đò giang

Không sang là chẳng đường sang đã đành

Nhưng đây cách một đầu đình

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi

Nhà em có một giàn giầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

Khi bình giảng lại lần theo tâm trạng đó. Tuy nhiên, không phải là sự diễn xuôi, kể lại (vì có gì đáng kể đâu) mà để thấy từng cung bậc tình cảm trong trái tim chàng trai đang tương tư.

Tương tư là bài thơ tình yêu, bài thơ diễn tả nỗi tương tư. Thành công của nó ở chỗ bao tâm hồn đã tìm thấy ở đó sự đồng điệu, tiếng thơ. Điều này tưởng chừng bình thường, đơn giản, song thật ra không phải ai cũng làm được. Nhiều bài thơ tuy rất hay, rất nổi tiếng, nhưng người ta nhận ra trước hết đó là nỗi lòng rất đơn chiếc của một người, và nếu có chỉ là tiếng lòng rất người, một bộ phận tương đối hẹp nào đó. Chẳng hạn:

Ai bảo em là giai nhân

Cho đời anh sầu khổ

Ai bảo em ngồi bên cửa sổ

Cho vướng víu nợ thi nhân.

(Lưu Trọng Lư - Một mùa đông)

Hoặc:

Chửa biết tên nàng, biết tuổi nàng

Mà sầu trong dạ đã mang mang

Tình yêu như bóng trắng hiu quạnh

Lạnh lẽo đêm trường, giãi gió sương.

(Lưu Trọng Lư - Một chút tình)

Thơ Nguyễn Bính, ở Tương tư, cũng như nhiều bài thơ khác, không phải vậy. Rất đông thanh niên, nhất là những người bình thường, thời bây giờ và sau đó nữa, tìm thấy sự đồng điệu ở thơ ông. Có được như vậy, trước hết là do thơ Nguyễn Bính có nhiều hình ảnh quen thuộc của thế giới ruộng đồng, dân dã (ở bài thơ này là bướm, hoa, thôn Đoài, thôn Đông, đình làng, bến đò, hàng cau, giàn trầu...) Dường như tiếng nói trong thơ Nguyễn Bính được cất lên từ chính thế giới thân thuộc đó, là một phần của thế giới ấy, chứ không là sự vay mượn. Thành ra lối diễn đạt cũng thế. Nó mang dáng vẻ mộc mạc, chân thành, bình dị (Ngày qua ngày lại qua ngày/ Bao giờ bến mới gặp đò?/ Nhà em có một giàn giầu..) Và dĩ nhiên, đây là hình thức thể hiện của một ai khác, sâu xa hơn, ở thơ Nguyễn Bính, đó chính là chân quê, hồn quê thấm đẫm trong tâm hồn nhà thơ. Chính cái tình, cái hồn ấy làm nên sự quen thuộc, gần gũi và thân thiết của thơ Nguyễn Bính đối với bao người Việt Nam, dù ở bất cứ thời đại nào.

Bài mẫu 2

Tình yêu thật khó định nghĩa, không ai có thể định nghĩa được tường tận về tình yêu. Và trong tình yêu có rất nhiều những cung bậc và trạng thái khác nhau. Có thể thấy được rằng trong khi yêu ai chẳng có sự nhớ thương lưu luyến, cảm giác nhớ mong đêm ngày được gọi tên đó chính là tương tư. Nhà thơ Nguyễn Bính đã có thơ thật hay khi nói về cảm xúc, trạng thái này đó chính là thi phẩm “Tương tư".

Và ta như thấy được chính khổ thơ đầu nói lên nỗi “nhớ”, nỗi “mong” của kẻ đang yêu, nỗi nhớ mong đầy ắp trong lòng, đã thành “bệnh” bởi lẽ “tôi yêu nàng”:

“Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người.

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Thật đặc sắc biết bao nhiêu khi chữ “tôi” xuất hiện trong bài thơ thật đáng yêu. Thôn Đoài với thôn Đông đó dường như cũng chính là nơi nhà “Nàng” và nhà Tôi” đang ở. Có lẽ rằng chính cách sử dụng hoán dụ - nhân hóa kết hợp với thành ngữ và nghệ thuật phân hợp số từ - vị ngữ đó như là câu “chín nhớ mười mong” làm cho lời thơ trở nên bình dị mà hồn nhiên, đằm thắm. Quả thực trong tình yêu khi xa cách thì nỗi “chín nhớ mười mong một người” không chỉ đầy ắp, da diết trong lòng chàng trai đa tình yêu tha thiết này mà còn tràn ngập cả xóm thôn, cả thôn Đông lẫn thôn Đoài.

Và chàng trai đã yêu nàng, tương tư đã thành “bệnh”, thật đáng thương,… thật độc đáo khi căn bệnh này cũng như bệnh nắng mưa của trời vậy. Ta dường như thấy được chính cách so sánh “bệnh giời” với bệnh “tương tư “của tôi yêu nàng”, nhà thơ Nguyễn Bính thật tài tình khi đã diễn tả một cách hồn nhiên, cũng như thật là thi vị về nỗi buồn tương tư trong tình yêu là lẽ tự nhiên, là tất yếu. Và ta như thấy được yêu thì mong được gần nhau, mà xa nhau thì nhớ; yêu lắm nên nhớ nhiều, và có thể nói ta như càng nhớ mong thì càng tương tư. Tương tư được biết đến đó chính là một nét đẹp của tình yêu nên khác gì “Nắng mưa là bệnh của giời”…

Không dừng lại ở đó ta như thấy được mười hai câu tiếp theo nói lên tâm trạng tương tư “bệnh của tôi yêu nàng”. Đầu tiên đó cũng chính là những nỗi băn khoăn thắc mắc. Tuy nhiên nó như chẳng được ở gần nhau “bên giậu mùng tơi”, “bên giàn thiên lí”, nhưng dường như khi mà tôi với nàng gần gũi biết bao “Hai thôn chung lại một làng”. Tình yêu đó chính là có mong có nhớ… có đi mà không có lại, nên băn khoăn thắc mắc biết ngỏ cùng ai bây giờ? Ta dường như thấy được đó chính là một câu hỏi cất lên nghe thật là thương, thật là buồn:

“Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”.

Dường như cũng đã bao lâu rồi chưa được gặp nàng, nỗi buồn tương tư càng da diết, nôn nao:

“Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”.

Ta như thấy được chính ba chữ “ngày” kết hợp với chữ, “qua” một chữ “lại” diễn tả nỗi buồn triền miên dằng dặc. Và cũng chính từ mùa xuân, khi lá xanh nay đã cuối thu “cây lá vàng”, thế mà “bên ấy” chẳng sang bên này cơ chứ? Và phải làm sao chẳng mỏi mòn mong nhớ? Làm sao có thể chẳng tàn úa như lá vàng mùa thu? Nguyễn Bính thật tài tình khi ông cũng đã học tập cách nói của dân gian lấy cây cỏ sắc màu để diễn tả thời gian li cách. Và chính thời gian tâm lí, thời gian tâm trạng: dằng dặc mong nhớ, triền miên buồn trông - được nói lên một cách rất thơ, rất đậm đà, ý vị biết bao nhiêu.

Tình yêu là vậy cứ thắc mắc rồi trách móc, rồi hờn tủi. Băn khoăn tự hỏi, tự giày vò mình đó chính là những câu theo mô-tip “Bao rằng”, “không… là chăng… đã đành”, “nhưng”, “có xa xôi mấy…”, và ta như thấy được hỏi để rồi lại băn khoăn, hờn dỗi. Và dường như điều đó chỉ biết hỏi mình mà thôi, càng hỏi càng cô đơn lẻ loi, hờn tủi:

”Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?”

“Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?”

Ta như thấy được để có thể mà trải qua những “chín nhớ mười mong”, hết trách móc hờn dỗi rồi lại trông đợi cầu mong. Thật chân tình, thật chân thành, tha thiết:

“Bao giờ bến mới gặp đò,

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”.

Tác giả dường như cũng đã vận dụng lối nói ước lệ ẩn dụ trong ca dao (bến, đò) trong thơ văn truyền thống đó chính là “hoa khuê các, bướm giang hồ”. Như cũng đã để thể hiện một nỗi ước mong, một khao khát về tình yêu hạnh phúc của lứa đôi rất thiết tha. Có thể thấy được rằng chính cái tôi trữ tình của chàng trai đa tình, nỗi buồn tương tư, nỗi khát khao ước mong về hạnh phúc “của tôi yêu nàng“, trở thành “cái chung” của nhiều chàng trai, cô gái khác. Và bài thơ như đã nói được nỗi lòng của chàng trai và những người đang yêu, đang mắc căn bệnh “tương tư”.

Và khi đến với phần hai bài thơ, chàng trai dường như lúc thì trách móc, lúc thì nhắn hỏi liên tiếp mà “nàng” vẫn hững hờ, biệt tăm. Ta như cảm thấy được kẻ thì đa tình mơ mộng… mà đau buồn đó chính là đối tượng lại mơ hồ, vô định, nhớ thương mong đợi, có đi mà chẳng bao giờ có lại. Quả thật đây cũng chỉ là chuyện hão huyền, vô vọng vì đó đều mơ hồ, vu vơ. Ta dường như thấy được ở đời vẫn có những mối tình yêu như thế, lãng mạn như thế:

“Nhớ mình ra ngẩn vào ngơ

Trông mây trông nước, nay chờ mai mong”.

Qua đó, ta mới có thể cảm nhận được tình tương tư “một người chín nhớ mười mong một người” trong thơ Nguyễn Bính. Và đó chỉ là yêu vụng dấu thầm mà thôi.

Bốn câu thơ cuối bài nói lên niềm mơ ước muôn đời của lứa đôi. Và ở đây là của “anh”. Yêu nhau đâu chỉ có “chín nhớ mười mong”, đâu chỉ có tương tư mà còn ước mơ hạnh phúc:

“Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào”.

Hình ảnh “Có một giàn giầu”, “có một hàng cau liên phòng”, nhà anh, nhà em mới đều chỉ có “một” nghĩa là còn lẻ loi, đơn chiếc. Và hơn hết đó chính là anh và em vẫn đôi nơi đó là anh ở thôn Đoài, em vẫn ở thôn Đông, vẫn còn xa cách quá chừng, vẫn là một trời mong nhớ, nhớ thương biết bao nhiêu đó chính là “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông”. Anh nhớ em, tưởng như: “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”.

Người đọc cũng có thể ngầm hiểu hình ảnh ẩn dụ “giầu - cau” dường như cũng đã lộ niềm mơ ước: duyên trầu cau cũng là duyên đôi lứa sắt son, bền chặt. Chính với cấu trúc song hành gợi tả mối quan hệ gắn bó của đôi trai gái trong một tình yêu đẹp biết bao nhiêu.

Thi phẩm “Tương tư” vượt lên thời gian, đã sống trong lòng người, trong trái tim, tâm hồn bao chàng trai, cô gái. Ta như thấy được ngôn ngữ và chất thơ dung dị, hồn nhiên, dân dã và không kém phần lãng mạn, thơ mộng. Đó chính là một hệ thống ẩn dụ - ước lệ đó chính là thôn Đoài, thôn Đông, bến - đò, hoa - bướm, cau - trầu…. Ta dường như có thể thấy được với cách nói ví von bình dị đã tạo nên một không gian nghệ thuật gần gũi, thân quen là làng xóm, quê nhà, là “hồn xưa đất nước“. Có lẽ rằng chính cái mới trong thơ lục bát của Nguyễn Bính là chất biểu cảm nồng nàn, như đồng thời cũng chính là niềm khao khát về tình yêu hạnh phúc, là cái tôi trữ tình, là “của tôi yêu nàng”, đồng thời cũng nói lên được cảm xúc của tuổi trẻ bấy lâu nay.

"Tương tư” dường như có cảm giác mong nhớ và buồn, có trách móc và giận hờn, nhưng chủ yếu là vươn tới, là mơ ước, đó như chính là những khát khao để anh và em, để cau thôn Đoài và giầu không thôn Đông thắm lại, như thêm được cả sự son sắt, thủy chung. Tất nhiên là mọi mơ ước đều đẹp. Đặc biệt là khi con người đã mơ ước về tình duyên hạnh phúc lại càng đẹp. “Tương tư” thể hiện hồn thơ Nguyễn Bính đó chính là sự lãng mạn mà chân quê, man mác hương đồng gió nội một thời quá vãng.

-----------

Trên đây là bài văn mẫu 11 bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính mà đọc tài liệu đã biên soạn, hy vọng với những tài liệu này sẽ giúp ích cho các em trong việc bộ môn văn mẫu lớp 11 được tốt hơn.

Bạn còn vấn đề gì băn khoăn?
Vui lòng cung cấp thêm thông tin để chúng tôi giúp bạn
Hủy

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM