Trang chủ

Soạn bài Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận

Xuất bản: 17/09/2020 - Tác giả:

Hướng dẫn soạn bài Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận giúp em nắm vững kiến thức và trả lời câu hỏi bài tập trang 194, 195 và 196 SGK Ngữ văn lớp 12 tập 1.

Tài liệu hướng dẫn soạn bài Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận do Học Tốt tổng hợp và biên soạn giúp các em rèn luyện kĩ năng phát hiện, phân tích và sửa chữa được các lỗi về lập luận thông qua các bài tập củng cố trong SGK.

Với những hướng dẫn chi tiết trả lời câu hỏi sách giáo khoa dưới đây các em không chỉ soạn bài tốt mà còn nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học này.

Cùng tham khảo...

Soạn bài Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận ngắn gọn

Gợi ý trả lời các câu hỏi bài tập soạn bài Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận trang 194, 195, 196 SGK Ngữ văn 12 tập 1.

I. Lỗi liên quan đến việc nêu luận điểm

Câu 1 trang 194 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Tìm hiểu những đoạn trích trong SGK và cho biết việc nêu luận điểm mắc lỗi là gì?

Trả lời:

a, Luận điểm trong bài chưa rõ ràng, nội dung bị trùng lặp thiếu sự nhấn mạnh, phát triển ý.

b, Không nêu được luận điểm chính có ý nghĩa khái quát, diễn đạt không mạch lạc, logic, không làm nổi bật được cốt lõi vấn đề.

c, Không có sự thống nhất về chủ đề, cách diễn đạt sơ sài.

Câu 2 trang 194 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Chữa lại các đoạn văn, nêu rõ luận điểm cần trình bày (xem SGK).

Trả lời:

a, thay từ “vắng vẻ” bằng tính từ khác phù hợp với luận cứ

b, Luận điểm cần ngắn gọn “nam nhi thời phong kiến luôn mang trong mình món nợ công danh”

c, Luận điểm: văn học dân gian tích lũy kinh nghiệm của cha ông từ ngàn đời.

II. Lỗi liên quan đến việc nêu luận cứ

Câu 1 mục II trang 195 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Chỉ rõ các lỗi nêu luận cứ trong các đoạn văn sau đây:

a)

“Nắng xuống, trời lên xanh bát ngát

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.” 

Thường khi nắng chiều đã xuống thì bầu trời trở nên xanh mênh mông bát ngát, cảnh đẹp của quê hương cũng không lấp được nỗi mênh mông trống trải cô đơn trong lòng người.

b) Trong lịch sử chống ngoại xâm, chúng ta thấy dân tộc ta anh hùng hào kiệt thời nào cũng có. Hai Bà Trưng phất ngọn cờ hồng khởi nghĩa đánh tan Thái thú Tô Định, buộc hắn phải trốn vào đám loạn quân chạy về nước. Đất nước sau hơn hai thế kỉ bị phong kiến nước ngoài đô hộ đã giành được thắng lợi hoàn toàn.

c) Lịch sử dân tộc ta đã ghi lại biết bao nhiêu trang sử hào hùng với những tên tuổi sáng chói muôn đời. Ngô Quyền đánh tan quân xâm lược Nam Hán. Nguyễn Huệ đánh tan quân xâm lược nhà Thanh. Lê Lợi đại phá quân Minh. Ải Chi Lăng mãi là mồ chôn quân xâm lược. Đời Trần Hưng Đạo lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân Nguyên, giành lại nền độc lập cho đất nước. Cửa biển Bạch Đằng lập chiến công lừng lẫy non sông. Những tên tuổi đó mãi mãi sống cùng non sông đất nước.

Trả lời:

a, Luận cứ mơ hồ, cách dùng từ chưa hợp lý.

b, Luận cứ thiếu chính xác, cách sắp xếp ý lộn xộn.

c, Lỗi ở sự thiếu logic, luận cứ không phù hợp với luận điểm.

Câu 2 trang 195 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Sửa lại các lỗi nêu luận cứ trong các đoạn văn ở câu 1.

Trả lời:

a, Sửa:

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

+ Khi nắng xuống, trời lên thì bầu trời, lòng sông mở ra vừa cao, rộng đến vô tận

b, Sửa: Thời đại Trưng Vương cho tới những năm kháng chiến chống Pháp, Mỹ anh hùng hào kiệt đời nào cũng có.

c, Các địa danh không phải tên tuổi, sửa thành: Ngô Quyền, Lê Lợi, Nguyễn Huệ.

III. Lỗi liên quan đến việc vận dụng các phương pháp luận

Câu 1 mục III trang 195 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Xác định, phân tích các lỗi về cách thức lập luận trong các đoạn văn sau:

a) Từ xưa, vẻ đẹp và số phận người phụ nữ luôn là một đề tài chủ đạo trong thơ văn. Trong nền văn học trung đại Việt Nam, nhiều tác giả đã viết về đề tài này như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn,... Nhưng người đã phản ánh một cách sâu sắc nhất bi kịch của người phụ nữ chính là Nguyễn Du.

b) Nam Cao viết nhiều về nông thôn. Lão Hạc ăn bả chó tự tử để tránh đói. Anh cu Phúc chết lặng trong xó nhà ẩm ướt, trước những đôi mắt “dại đi vì đói” của hai đứa con. Bà cái đĩ chết vì một bữa no, tức là một kiểu chết vì quá đói. Lại có cảnh đám cưới, nhưng cưới để chạy đói.

c) Mùa thu là một đề tài gợi nhiều cảm hứng cho thi nhân. Chính vì thế, mùa thu đã là một thi đề quen thuộc trong thơ ca trung đại Việt Nam. Tinh tế và sâu lắng nhất phải kể đến cảnh thu với nỗi sầu muộn vô biên của Đỗ Phủ (Thu hứng). Còn trong thơ ca Việt Nam trung đại, Nguyễn Khuyến chính là nhà thơ của mùa thu làng quê với chùm thơ Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm.

Trả lời:

a, Luận cứ trình bày thiếu tính logic, lộn xộn, hệ thống luận cứ không đủ làm sáng tỏ cho luận điểm.

b, Luận điểm mập mờ, luận cứ phiến diện, thiếu cái nhìn đa chiều khi chỉ viết về “cái đói” trong đề tài người nông dân và nông thôn của Nam Cao.

c, - Luận điểm hư ảo, không rõ ràng, sự gợi mở, dẫn dắt không phù hợp làm sáng tỏ luận điểm.

- Luận cứ dùng để mở rộng, tiếp tục phát triển đề tài không phù hợp với phạm vi đề tài.

Câu 2  trang 196 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Hãy sửa lỗi trong các đoạn văn trên.

Trả lời:

a,

Sửa thành: Vẻ đẹp và số phận của người phụ nữ luôn là những đề tài trong nền văn học trung đại Việt Nam để nhiều tác giả thể hiện quan niệm tiến bộ của mình như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn… và xuất sắc nhất phải nhắc tới chính là Nguyễn Du với tác phẩm truyện Kiều

b,

Sửa thành: Các đối tượng trong các sáng tác của Nam Cao đa dạng, phong phú không chỉ viết về người nông dân, mà ông còn tập trung khắc họa hình ảnh người trí thức tiểu tư sản.

c,

Sửa thành: Nhưng để lại ấn tượng sâu sắc nhất phải kể đến Nguyễn Khuyến- nhà thơ của cảnh thu, tình thu.

Soạn bài Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận chi tiết

Gợi ý trả lời các câu hỏi bài tập soạn bài Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận trang 194, 195, 196 SGK Ngữ văn 12 tập 1.

I. Lỗi liên quan đến việc nêu luận điểm

Bài 1 trang 194 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Tìm hiểu những đoạn trích trong SGK và cho biết việc nêu luận điểm mắc lỗi là gì?

Trả lời:

a. Luận điểm nêu chưa rõ ràng nội dung trùng lặp mà không có sự nhấn mạnh hay phát triển ý (“Cảnh vật.. vắng vẻ”, “ngưng đọng im lìm”, “cảnh sắc im ắng”).

b. Không nêu được luận điểm khái quát (ý nghĩa thực sự của hai câu thơ trong bài Thuật Hoài), diễn đạt trùng lặp, luẩn quẩn không diễn tả được đúng bản chất, cốt lõi vấn đề.

c. Ở đoạn văn c, giữa luận điểm: "Văn học dân gian ra đời từ phát triển", với luận cứ tiếp theo: “nhắc đến nó... cuộc sống" rời rạc và không có sự liên kết về nội dung. Vấn đề trình bày nghèo nàn, sơ lược.

Bài 2 trang 194 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Chữa lại các đoạn văn, nêu rõ luận điểm cần trình bày (xem SGK).

Trả lời:

a.

Cảnh vật trong bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến đã mở ra không gian tĩnh lặng, yên bình của làng cảnh xưa. Ngõ trúc quanh co, sóng nước gợn tí, lá vàng đưa vèo, chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Tất cả sự vật đều như chìm trong cơn ngủ say, tĩnh tại, không vận động. Cảnh vật dường như ngưng đọng. Có chăng đó chỉ là sự gợn nhẹ của sóng, chiếc lá rơi khẽ khàng. Cảnh vật vắng vẻ, im ắng ấy thực chất gợi lên sự thanh bình của miền quê, của cuộc sống ở ẩn nơi thôn dã.

b.

“Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”.

Người làm trai trong câu thơ của Phạm Ngũ Lão luôn mong muốn được tung hoành để thỏa cái trí của mình, để noi gương người đi trước, làm gương cho hậu thế và không hổ thẹn với chính mình. Người làm trai thời xưa vốn luôn mang theo mình món nợ công danh, mang khát khao “vinh quy bái tổ”, “chức cao vọng trọng” để làm rạng danh tổ tiên, để mở mày mở mặt với thiên hạ. Phạm Ngũ Lão cũng mang bên mình món nợ công danh và hoài bão khát khao của ông còn cao, xa hơn hẳn kẻ tầm thường. Theo ông, người làm trai phải trả món nợ công danh, noi gương người xưa. Vũ Hầu là Gia Cát Lượng, người toàn tài hiếm có, nổi tiếng cả về nhân đức, trí tuệ. Phạm Ngũ Lão trí lớn, hoài bão lớn là vậy nhưng vẫn thấy thẹn khi nghĩ đến Vũ Hầu. Điều đó khẳng định nhân cách, tráng trí của người trai thời xưa nói chung và của Phạm Ngũ Lão nói riêng.

c.

Văn học dân gian ra đời từ xa xưa và vẫn tiếp tục phát triển cho tới ngày nay. Văn học dân gian được xem là cuốn bách khoa về cuộc sống. Tiếp nhận văn học dân gian là tiếp nhận tri thức hữu ích từ cuộc sống. Tuy bình dị trong ngôn ngữ, cách diễn đạt nhưng văn học dân gian lại có sức hấp dẫn riêng nhờ vốn tri thức, những kinh nghiệm đời sống phong phú sinh động mà văn học dân gian chuyển tải. Ví dụ như câu tục ngữ “Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy/ Cơn đằng nam vừa làm vừa chơi” đã đúc kết kinh nghiệm về thực tiễn. Như câu ca “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” chứa đựng giá trị nhân văn truyền thống của dân tộc. Hay những truyện ngụ ngôn được xem như túi khôn, những truyện cổ tích luôn phản ánh tâm tư nguyện vọng, ước mơ muôn thuở của người bình dân về lẽ công bằng, thiện – ác ở đời… Bởi giá trị phong phú ấy mà văn học dân gian có sức sống lâu bền, ngay cả trong cuộc sống hiện đại.

II. Lỗi liên quan đến việc nêu luận cứ

Bài 1 mục II trang 195 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Chỉ rõ các lỗi nêu luận cứ trong các đoạn văn sau đây:

a)

“Nắng xuống, trời lên xanh bát ngát

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.” 

Thường khi nắng chiều đã xuống thì bầu trời trở nên xanh mênh mông bát ngát, cảnh đẹp của quê hương cũng không lấp được nỗi mênh mông trống trải cô đơn trong lòng người.

b) Trong lịch sử chống ngoại xâm, chúng ta thấy dân tộc ta anh hùng hào kiệt thời nào cũng có. Hai Bà Trưng phất ngọn cờ hồng khởi nghĩa đánh tan Thái thú Tô Định, buộc hắn phải trốn vào đám loạn quân chạy về nước. Đất nước sau hơn hai thế kỉ bị phong kiến nước ngoài đô hộ đã giành được thắng lợi hoàn toàn.

c) Lịch sử dân tộc ta đã ghi lại biết bao nhiêu trang sử hào hùng với những tên tuổi sáng chói muôn đời. Ngô Quyền đánh tan quân xâm lược Nam Hán. Nguyễn Huệ đánh tan quân xâm lược nhà Thanh. Lê Lợi đại phá quân Minh. Ải Chi Lăng mãi là mồ chôn quân xâm lược. Đời Trần Hưng Đạo lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân Nguyên, giành lại nền độc lập cho đất nước. Cửa biển Bạch Đằng lập chiến công lừng lẫy non sông. Những tên tuổi đó mãi mãi sống cùng non sông đất nước.

Trả lời:

a. 

- Luận cứ mơ hồ, thiếu chính xác:

+ Trời lên xanh bát ngát.

+ Khi chiều đã xuống thì bầu trời không thể "xanh mênh mông bát ngát" được.

b.

- Lỗi:

+ Luận cứ thiếu chính xác: “Đất nước sau hơn hai thế kỉ bị phong kiến nước ngoài đô hộ đã giành được thắng lợi hoàn toàn”.

+ Luận cứ đưa ra chưa đầy đủ, mới chỉ nêu dẫn chứng về Hai Bà Trưng.

c.

- Lỗi:

+ Luận cứ thiếu tính hệ thống, logic. Luận cứ không phù hợp với luận điểm: "Ải Chi Lăng .... Cửa biển Bạch Đằng".

+ Các địa danh này không phải là "tên tuổi".

Bài 2 trang 195 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Sửa lại các lỗi nêu luận cứ trong các đoạn văn ở câu 1.

Trả lời:

a. 

- Sửa lại luận cứ:

+ “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”.

+ Khi "nắng xuống, trời lên thì bầu trời, lòng sông mở ra vừa cao, vừa sâu đến vô tận".

b. 

- Sửa lại: Cần bổ sung cho phù hợp luận điểm: "Dân tộc ta anh hùng hào kiệt thời nào cũng có".

c.

- Sửa: Ngô Quyền - Trần Hưng Đạo - Lê Lợi - Nguyễn Huệ

III. Lỗi liên quan đến việc vận dụng các phương pháp luận

Bài 1 mục III trang 195 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Xác định, phân tích các lỗi về cách thức lập luận trong các đoạn văn sau:

a) Từ xưa, vẻ đẹp và số phận người phụ nữ luôn là một đề tài chủ đạo trong thơ văn. Trong nền văn học trung đại Việt Nam, nhiều tác giả đã viết về đề tài này như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn,... Nhưng người đã phản ánh một cách sâu sắc nhất bi kịch của người phụ nữ chính là Nguyễn Du.

b) Nam Cao viết nhiều về nông thôn. Lão Hạc ăn bả chó tự tử để tránh đói. Anh cu Phúc chết lặng trong xó nhà ẩm ướt, trước những đôi mắt “dại đi vì đói” của hai đứa con. Bà cái đĩ chết vì một bữa no, tức là một kiểu chết vì quá đói. Lại có cảnh đám cưới, nhưng cưới để chạy đói.

c) Mùa thu là một đề tài gợi nhiều cảm hứng cho thi nhân. Chính vì thế, mùa thu đã là một thi đề quen thuộc trong thơ ca trung đại Việt Nam. Tinh tế và sâu lắng nhất phải kể đến cảnh thu với nỗi sầu muộn vô biên của Đỗ Phủ (Thu hứng). Còn trong thơ ca Việt Nam trung đại, Nguyễn Khuyến chính là nhà thơ của mùa thu làng quê với chùm thơ Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm.

Trả lời:

a.

- Luận cứ trình bày thiếu logic, lộn xộn. Hệ thống luận cứ không đủ để làm sáng rõ cho luận điểm chính.

b.

- Luận điểm không rõ ràng. Luận cứ thiếu toàn diện chỉ tập trung vào “cái đói” trong tác phẩm viết về đề tài nông thôn và nông dân của Nam Cao.

c.

- Luận điểm không rõ ràng. Phần gợi mở dẫn dắt không phù hợp cho việc nêu bật lên luận điểm chính.

- Luận cứ dùng để mở rộng, tiếp tục phát triển đề tài không phù hợp với phạm vi đề tài nêu trong những câu trước: “Tinh tế và sâu lắng nhất phải kể đến cảnh thu với nỗi sầu muộn vô biên của Đỗ Phủ” (Thu hứng).

Bài 2 trang 196 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Hãy sửa lỗi trong các đoạn văn trên.

Trả lời:

a.

- Sửa: Từ xưa đến nay, vẻ đẹp và số phận của người phụ nữ luôn là đề tài chủ đạo trong thơ văn. Trong nền văn học trung đại Việt Nam nhiều tác giả đã viết về đề tài này như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn,... Nhưng người phản ánh một cách sâu sắc nhất về vẻ đẹp và số phận người phụ nữ là Nguyễn Du.

b.

- Sửa: "Nam Cao viết nhiều về vấn đề miếng cơm manh áo".

c.

- Sửa: Mùa thu là đề tài gợi nhiều cảm hứng cho các thi nhân. Ta biết đến Đỗ Phủ với bức tranh thu nhuốm nỗi sầu vô biên, một Nguyễn Du với rừng phong thu nhuộm màu chia li. Nhưng để lại ấn tượng sâu sắc nhất phải kể đến Nguyễn Khuyến - nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, với chùm thơ thu: Thu Vịnh, Thu Điếu, Thu Ẩm.

Tóm tắt kiến thức lí thuyết

Khi viết văn nghị luận, nên chú ý tránh một số lỗi:

- Nêu luận điểm trùng lặp hoặc không rõ ràng, không phù hợp với bản chất của vấn đề cần giải quyết.

- Nêu luận cứ thiểu chính xác, thiếu chân thực, không đầy đủ, không liên quan mật thiết đến luận điểm cần trình bày, trùng lặp hoặc quá rườm rà.

- Lập luận mâu thuẫn, luận cứ không phù hợp với luận điểm.

-/-

//Trên đây là nội dung chi tiết bài soạn Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận do Học Tốt tổng hợp và biên soạn. Mong rằng nội dung của bài hướng dẫn soạn văn 12 bài Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận này sẽ giúp các em ôn tập và nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học. Chúc các em luôn đạt được những kết quả cao trong học tập.

[ĐỪNG SAO CHÉP] - Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận một cách tốt nhất. "Trong cách học, phải lấy tự học làm cố" - Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

TẢI VỀ

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM