Trang chủ

So sánh cảnh cho chữ của Huấn Cao và cảnh vượt thác sông Đà

Xuất bản: 05/04/2019 - Cập nhật: 24/11/2020 - Tác giả:

Những bài văn hay phân tích hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác sông Đà liên hệ so sánh với cảnh cho chữ của Huấn Cao (Chữ người tử tù).

Đề bài: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác (Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016).

Từ đó liên hệ với nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) để nhận xét quan niệm của nhà văn về vẻ đẹp con người.

***

Bài văn đạt điểm cao so sánh, liên hệ cảnh cho chữ và cảnh vượt thác sông Đà

Nguyễn Tuân (1910 - 1987) được mệnh danh là một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp của cuộc đời và viết lên những áng văn hay cho hậu thế. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, quan niệm cái đẹp của Nguyễn Tuân là những thứ chỉ còn xuất hiện trong quá khứ ở những bậc cao nhân tài hoa. Còn sau cách mạng với sự thay đổi của thời đại quan điểm cái đẹp của ông đã thay đổi gắn liền với cuộc sống thường nhật từ những gì dung dị nhất. Thông qua hai nhân vật Huấn Cao trong "Chữ người tử tù" và ông lái đò trong "Người lái đò sông Đà" ta thấy rõ nhất sự chuyển dịch trong cảm hứng sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân.

Có thể nói, "Chữ người tử tù" được xem là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Tuân trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Truyện ngắn này được trích ra từ tập "Vang bóng một thời" đây là tập truyện kể về những con người tài hoa giờ đã vang bóng một thời. Nhân vật chính của truyện là Huấn Cao người mang vẻ đẹp của một người nghệ sĩ tài hoa với khả năng viết chữ thư pháp đẹp nức tiếng gần xa. Ngay cả viên quản ngục của một huyện nhỏ vô danh cũng biết: "Chữ ông đẹp lắm, vuông lắm...có được chữ ông Huấn Cao mà treo trong nhà là có một vật báu ở trên đời". Cho nên sở nguyện của viên quản ngục là một ngày kia ngôi nhà của ông sẽ được treo một đôi câu đối do chính tay ông Huấn Cao viết.

Huấn Cao không chỉ có tài viết chữ đẹp mà ông còn có một thiên lương trong sáng. Ông không bao giờ ép mình cho chữ vì tiền hay vì quyền thế. Ông chỉ cho chữ những người biết trân quý cái đẹp cái tài. Cho nên suốt đời Huấn Cao mới chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn mà ông yêu mến. Lúc đầu, ông tỏ ra khinh bạc viên quản ngục vì nghĩ rằng hắn định có âm mưu đen tối gì với mình khi biệt đãi trong phòng giam. Rồi từ từ Huấn Cao mới cảm nhận được tấm lòng "biệt nhỡn liên tài" của ông quản ngục và viên thơ lại. Họ là những người biết yêu cái đẹp thành tâm xin chữ Huấn Cao. Và để không phụ lòng viên quản ngục ông đã cho chữ ngay trong nhà lao. Nguyễn Tuân đã mô tả cảnh cho chữ là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.

Nhân vật Huấn Cao không chỉ đẹp ở tài năng mà còn đẹp ở cái tâm và ý chí bất khuất hiên ngang của người quân tử. Ở ông có khí phách của người anh hùng mà không phải ai cũng có thể có được. Thông qua nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã bộc lộ niềm tin bất diệt vào những cái đẹp mang giá trị cao quý ngay cả trong những nơi tối tăm, dơ bẩn nhất vẫn tỏa sáng.

Nếu như Huấn Cao được ví như anh tài xuất chúng được xây dựng trong hoàn cảnh có một không hai thì nhân vật ông lái đò lại có chút bình dị hơn. Trong tùy bút "Người lái đò sông Đà" của Nguyễn Tuân nhân vật ông lái đò được xây dựng hết sức chân thật qua công việc ông làm. Ông lái đò là người có ngoại hình rất đặc biệt với hai tay "lêu nghêu", chân "khuỳnh khuỳnh", giọng nói thì "ào ào như tiếng nước trước mặt gềnh", đôi mắt thì "vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó"...Với đặc điểm ngoại hình như thế chúng ta thấy được rất phù hợp với môi trường lao động trên sông nước của ông.

Ông lái đò được Nguyễn Tuân miêu tả là một người rất tài trí và có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ. Ông là người làm nghề rất có tâm hiểu biết tường tận từng ngóc ngách của con sông cũng như tính nết của nó. Ông nhớ như đóng đanh vào lòng những luồng nước và tất cả những con thác hiểm trở. Nắm bắt được trận đồ binh pháp của thần sông, thần đá. Thuộc làu quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở. Đặc biệt, ông còn chỉ huy được các cuộc vượt thác một cách tài tình biết rõ từng cửa sinh, cửa tử mà vượt qua.

Nguyễn Tuân miêu tả ông lái đò như một vĩ tướng hiên ngang "tả xung hữu đột" trước muôn trùng sóng nước của sông Đà. Ông là người rất dũng cảm biết chịu cái đau của thể xác do vật lộn với sóng to gió lớn để chiến thắng thác dữ bằng những động tác táo bạo và vô cùng chuẩn xác. Ta thấy ông lái đò được xây dựng như một nghệ sĩ thực thụ chứ không phải là một người lái đò bình thường.

Cả hai nhân vật Huấn Cao và ông lão lái đò đều được xây dựng bằng biện pháp lý tưởng hóa. Xuất phát từ cơ sở cái nhìn độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân. Ông nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ có thể làm nổi bật lên những vẻ đẹp phi thường trong tài năng, cốt cách của họ. Nhà văn đã đặt hai nhân vật vào những tình huống đầy thử thách để giúp họ bộc lộ được phẩm chất đáng quý của mình.

Nếu như khi xây dựng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân sử dụng tri thức nghệ thuật thì xây dựng nhân vật ông lái đò nhà văn lại vận dụng nhiều vốn tri thức đời sống. Chính điều này đã khiến cho ngòi bút Nguyễn Tuân thuyết phục được nhiều đối tượng độc giả. Những tác phẩm văn chương của ông không chỉ đẹp về mặt ngôn từ còn có giá trị nghệ thuật rất đặc sắc mà hậu thế phải công nhận.

Một số bài văn tham khảo phân tích cảnh vượt thác liên hệ với cảnh cho chữ

Bài số 1:

Nguyễn Tuân (1910-1987) là một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp. Trước cách mạng, ông quan niệm cái đẹp chỉ có trong quá khứ "Vang bóng một thời" và tài hoa nghệ sĩ chỉ có ở những con người xuất chúng của thời trước còn vương sót lại. Còn sau cách mạng, ông không đối lập quá khứ với hiện tại và cái đẹp có cả ở quá khứ, hiện tại, đặc biệt là phẩm chất tài hoa có thể có ở cả nhân dân đại chúng. Qua việc phân tích hai nhân vật ông Huấn Cao trong "Chữ người tử tù" và nhân vật ông lái đò trong "Người lái đò sông Đà", chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó.

"Chữ người tử tù" là một truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Tuân viết trước cách mạng (1940) rút từ tập "Vang bóng một thời". Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và có nhiều thành công về phương diện nghệ thuật. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật bộc lộ tập trung trong hình tượng nhân vật Huấn Cao

Cũng như các nhân vật trong "Vang bóng một thời", vẻ đẹp của Huấn Cao trước hết là vẻ đẹp của con người tài hoa, nghệ sĩ. Phẩm chất tài hoa nghệ sĩ này được biểu hiện rõ nhất là ở cái tài viết chữ đẹp. Một thời Hán học, cha ông ta viết chữ Nho, một loại chữ giàu tính tạo hình. Các nhà Nho xưa viết chữ để bộc lộ cái tâm, cái chí, viết chữ đã trở thành một môn nghệ thuật gọi là thư pháp. Và Huấn Cao là một nghệ sĩ rất mực tài hoa trong nghệ thuật này "Tài viết chữ rất nhanh và đẹp" của ông nổi tiếng khắp cả tỉnh. Ngay cả viên quản ngục của một huyện nhỏ vô danh cũng biết: "Chữ ông đẹp lắm, vuông lắm... có được chữ ông Huấn Cao mà treo trong nhà là có một vật báu trên đời". Cho nên "Sở nguyện của viên quản ngục này là có một ngày kia treo ở nhà riêng một câu đối do tay ông Huấn Cao viết". Để có được chữ của Huấn Cao, viên quản ngục không những phải dụng công, phải nhẫn nhục, mà còn phải liều mạng. Bởi vì biệt đãi Huấn Cao, một kẻ tử tù là một việc làm nguy hiểm, có khi phải trả giá bằng tính mạng của mình.

Huấn Cao còn là con người có thiên lương trong sáng, cao đẹp. Nghĩa là Huấn Cao rất giàu chữ tâm. Huấn Cao có tài viết chữ, nhưng không phải ai ông cũng cho chữ. Ông không bao giờ ép mình cho chữ vì vàng ngọc, hay quyền thế. Ông chỉ trân trọng những ai biết yêu quý cái đẹp, cái tài. Cho nên, suốt đời Huấn Cao chỉ mới viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân mà thôi. Ông tỏ thái độ khinh bạc ra mặt viên quản ngục vì tưởng rằng viên quản ngục có âm mưu đen tối gì, khi thấy viên quan ấy biệt đãi mình. Rồi ông "Cảm tấm lòng biệt nhỡn liên tài" của quản ngục và thơ lại, khi biết họ thành tâm xin chữ. Huấn Cao quyết không phụ tấm lòng của họ nên mới diễn ra cảnh cho chữ trong nhà lao, được tác giả gọi là "Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có".

Huấn Cao còn đẹp hơn nữa ở phẩm chất bất khuất, hiên ngang. Đẹp ở phẩm chất tài hoa, nghệ sĩ, có thiên lương, chữ tâm trong sáng, cao đẹp, Huấn Cao còn đẹp hơn nữa ở phẩm chất bất khuất, hiên ngang của một bậc anh hùng hào kiệt. Huấn Cao dám chống lại triều đình mà ông căm ghét, khinh bỉ. Dù chí lớn không thành, tư thế Huấn Cao bao giờ cũng hiên ngang, bất khuất. Bị dẫn vào huyện ngục, ông không chút run sợ trước những kẻ đang nắm giữ vận mệnh của mình. Ông lừng lững dẫn sáu đồng chí tù, hiên ngang bước vào nhà lao. Giữa chốn lao tù đầy tử khí, ông vẫn thản nhiên nhắm rượu thịt do thơ lại mang đến coi "Như cái việc ông vẫn làm trong cái hứng bình sinh". Và ông đã sẵn sàng trả lời viên quản ngục bằng những câu hết sức cao ngạo, dù biết rằng có thể sẽ bị những trận đòn báo thù khủng khiếp. Là một tử tù chỉ đợi ngày ra pháp trường, vậy mà Huấn Cao vẫn hiện lên trong tư thế ung dung, đĩnh đạc đường hoàng, ngang tàng kiêu dũng của một bậc anh hùng "Chọc trời khuấy nước mặc dầu"; "Dọc ngang nào biết trên đầu có ai". Tuy nhiên đây là một anh hùng thất trận, một tử tù.

Nhân vật Huấn Cao bộc lộ lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Tuân: Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách anh hùng. Qua nhân vật này, Nguyễn Tuân muốn biểu lộ niềm tin bất diệt vào những giá trị cao quý của con người và sức mạnh kỳ diệu của cái đẹp, đồng thời cũng bày tỏ tấm lòng yêu nước thầm kín của mình. Vì thế, Huấn Cao đã trở thành biểu tượng cho sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp, cái cao cả đối với cái phàm tục, dơ bẩn, của khí phách hiên ngang đối với thói quen cam chịu nô lệ.

Nhân vật Huấn Cao là một nhân vật của truyện ngắn được xây dựng theo bút pháp lãng mạn: Để làm nổi bật vẻ đẹp Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật vào trong một tình huống độc đáo: Cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và quản ngục. Đó là cuộc gặp gỡ giữa tử tù với quan coi ngục, nhưng cũng là cuộc hội ngộ kỳ lạ giữa những kẻ "Liên tài tri kỉ".

Khắc hoạ hình tượng Huấn Cao, để làm nổi bật sự chiến thắng của cái tài, cái đẹp, cái tâm và khí phách hiên ngang, Nguyễn Tuân sử dụng triệt để sức mạnh của "Nguyên tắc tương phản đối lập của bút pháp lãng mạn". Ở truyện ngắn này, nhà văn cũng đã thể hiện cái tài dựng cảnh, dựng người với ngôn ngữ cổ kính, trang trọng, tinh tế.

Tuỳ bút "Người lái đò sông Đà" là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Tuân viết sau Cách mạng, được in trong tập "Sông Đà" (1960). Ở tuỳ bút này, người lái đò sông Đà là một hình tượng độc đáo, hấp dẫn mang rõ dấu ấn phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.

Trước hết ông lái đò là người rất mực tài trí, dũng cảm trong những chuyến vượt thác đầy hiểm nguy. Để làm nổi bật phẩm chất này, Nguyễn Tuân đã có dụng ý nghệ thuật sâu xa là để cho người lái đò xuất hiện trên một hoàn cảnh đầy thử thách khốc liệt. Nguyễn Tuân khẳng định "Ông muốn ghi cái đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà". Nguyễn Tuân đã mô tả một cách chân thật vừa trân trọng, vừa yêu thương, vừa cảm phục nhân vật ông lái đò vô cùng hiên ngang, trí dũng trong cuộc chiến đấu với những con sóng, con thác đầy hung dữ, nguy hiểm. Cuộc vượt thác, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân diễn ra như một trận đánh dữ dội có nhiều hồi, nhiều đợt, mỗi đợt lại có những thử thách ác liệt khác nhau, dòng sông bày ra những thạch trận hiểm hóc khác nhau: "Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục trong lòng sông...để vồ lấy con thuyền. Đá bày ra thạch trận trên sông với những boongke chìm và pháo đài nổi, phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác". Kho từ vựng giàu có và vốn kiến thức văn hoá khoa học phong phú, uyên bác như quân sự, võ thuật, thể dục thể thao, điện ảnh...của Nguyễn Tuân được dịp huy động để miêu tả cuộc thuỷ chiến ác liệt giữa người lái đò và sóng thác sông Đà "Sóng nước thúc gối vào bụng và hông thuyền...có lúc chúng đội cả thuyền lên...sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất". Có lúc tưởng như ông lái đò sẽ bị con thuỷ quái sông Đà vô cùng hung bạo ấy nuốt chửng. Nhưng ông lái đò vẫn không hề nao núng, trái lại vẫn bình tĩnh chủ động chiến đấu một cách dũng cảm đầy mưu trí như một vị chỉ huy tài trí tuyệt vời, điều khiển con thuyền lần lượt vượt qua các thác ghềnh như "Phá cái trận đồ bát quái của dòng sông hung bạo"..."Dòng nước hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông Đà". Nhưng người lái đò vẫn "Cưỡi lên thác sông Đà...đến cùng như là cưỡi hổ".

Ông lái đò còn là người rất mực tài hoa, có phong thái ung dung, pha chút nghệ sĩ. Sóng, thác sông Đà rất khắc nghiệt, chỉ cần người lái đò một phút thiếu chính xác, một tích tắc thiếu bình tĩnh, nhỡ tay, hoa mắt là có thể phải trả giá bằng cả chính sinh mệnh của mình. Nhưng sóng, thác sông Đà dù có hung dữ đến đâu, cũng bị khuất phục trước người lái đò thời nay. Bởi người lái đò là một nghệ sĩ có nghệ thuật chở đò kỳ diệu. Nghệ thuật ấy được biểu hiện rõ nhất ở khả năng nắm chắc quy luật tất yếu của sông Đà, nhờ thế mà người lái đò trở thành người tự do, người chiến thắng. Ông lái đò đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá, thuộc lòng các luồng sinh, luồng tử mà chủ động trong mọi tình huống. Lúc thì "Ông cưỡi thác nắm lấy bờm sóng mà phóng nhanh qua cửa tử" lúc lại "Ghì cương đè sấn lên mà chặt đôi con thác để mở đường tiến". Thế là, bằng những động tác nhuần nhuyễn hoàn hảo rất tinh thông trong nghề nghiệp của mình, ông lái đò đã lái con thuyền "như một mũi tên tre xuyên qua hơi nước", xuyên qua biết bao ghềnh thác hiểm nghèo của dòng sông hung bạo này. Nguyễn Tuân gọi người lái đò của mình có "tay lái ra hoa" là như vậy. Người lái đò trở thành một người nghệ sĩ, một người anh hùng chiến thắng thiên nhiên.

Ngày xưa Nguyễn Tuân bị xem là nhà văn có quan điểm duy mỹ. Ngày nay ông hướng ngòi bút của mình đến những con người lao động bình thường đang âm thầm cống hiến cho đất nước. Ông phát hiện ra nét tài hoa nghệ sĩ của họ được thể hiện ngay trong công việc lao động vô cùng nguy hiểm nhưng cũng vô cùng cao cả của mình. Nguyễn Tuân gọi đó là "Cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí con người Tây Bắc". Qua đây, Nguyễn Tuân muốn phát biểu một quan niệm: người anh hùng không chỉ xuất hiện trong chiến đấu, mà còn xuất hiện trong cuộc sống lao động bình thường.

Tóm lại Huấn Cao là kiểu nhân vật tiêu biểu cho bút pháp lãng mạn của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám; Còn người lái đò là kiểu nhân vật tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Tuân sau cách mạng. Qua đây, ta thấy Nguyễn Tuân xứng đáng là một nhà văn suốt đời mải mê đi tìm cái đẹp, ca ngợi cái đẹp và không ngừng sáng tạo, bao giờ ông cũng tạo được cho mình một nét phong cách độc đáo hấp dẫn.

» Tham khảo thêm:

Bài số 2:

Hê-ra-clít từng nói một câu bất hủ: Không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Thực vậy, mọi sự vật, sự việc trên đời đều luôn vận động, luôn thay đổi và chính việc đổi thay ấy lại là sự ổn định của sự vật, sự việc. Theo đó, sự biến đổi trong tư tưởng và nghệ thuật ở những nhà văn như Nguyễn Tuân trong các sáng tác viết trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945 cũng là một lẽ vận động hết sức bình thường. Chỉ nhìn vào hai tác phẩm xuất sắc nhất của đời văn Nguyễn Tuân là Chữ người tử tùNgười lái đò Sông Đà, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó.

Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn Việt Nam có tư tưởng nghệ thuật hết sức rõ ràng. Trong hành trình sáng tác của mình, ông đã xây dựng được cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo. Nguyễn Tuân ưa quan sát, khám phá và diễn tả thế giới nghiêng về phương diện văn hóa, thẩm mĩ; quan sát, khám phá, diễn tả con người nghiêng về phương diện tài hoa, nghệ sĩ.

Những thú uống trà, làm đèn kéo quân, đánh thơ, thả thơ, viết thư pháp… bước vào Vang bóng một thời của ông không đơn thuần chỉ là những nét đẹp của văn hóa truyền thống mà trở thành những “môn” nghệ thuật, đòi hỏi phải có những nghệ sĩ tài hoa. Đến lái đò, bắn giặc cũng phải thực tài hoa, uyên bác. Một điểm khác rất dễ nhận thấy trong sáng tác của Nguyễn Tuân chính là quan niệm về cái đẹp.

Nguyễn Tuân là người say mê đi tìm cái đẹp nhưng ông cho rằng chỉ những hiện tượng gây ấn tượng sâu đậm, đập mạnh vào giác quan nghệ sĩ như gió, bão, núi cao, rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội... mới xứng đáng là cái đẹp. Đó là lí do trong Chữ người tử tù và trong Người lái đò sông Đà, nhà văn say sưa khắc họa chân dung một tử tù hiên ngang, khí phách và một ông – lái đò như dũng tưởng vượt thác leo ghềnh.

Trên nền tảng chung ấy, tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Tuân đã có sự chuyển biến ở các sáng tác trước và sau Cách mạng tháng Tám.

Trước hết, ở cảm hứng thẩm mĩ, có thể thấy trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân có xu hướng tìm về quá khứ như một cách để thoát li thực tại đen tối đương thời. Nhà văn trở về với một thời vang bóng xa xưa để kiếm tìm một vẻ đẹp còn vương sót lại: nghệ thuật viết thư pháp. Cách mạng tháng Tám thành công đã mang đến cho nhiều nhà văn, nhà thơ trong đó có Nguyễn Tuân một nguồn sống mới dào dạt. Nguyễn Tuân không còn phải tìm về quá khứ nữa mà hồ hởi đón nhận hiện tại, tương lai. Viết Người lái đò sông Đà, nhà văn đi tìm cái đẹp trong chính cuộc sống bình dị của ngày hôm nay – vẻ đẹp của con người trong lao động – mà cụ thể đó là nghệ thuật chèo đò của một ông lái đò. Rõ ràng, hiện tại, tương lai đã mang đến Nguyễn Tuân một cảm hứng thẩm mĩ mới, rộng mở hơn nhưng gần gũi, thân thiết hơn.

Đọc văn Nguyễn Tuân, bất cứ ai cũng nhận thấy nhà văn rất ưa quan sát và diễn tả con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ. Những lớp tài hoa, nghệ sĩ trong các sáng tác trước và sau Cách mạng lại không hề giống nhau.

Thực vậy, Huấn Cao trong Chữ người tử tù là một một người có tài viết chữ rất nhanh và đẹp, “những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”. Những con chữ của Huấn Cao không chỉ đẹp mà còn rất quý bởi sinh thời, ông mới chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân. Trong phần cuối truyện, nhà văn đã đưa người đọc chứng kiến một cảnh tượng xưa nay chưa từng có: cảnh cho chữ, uy nghi, trang trọng và cảm động:

Trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa. Một người tù cổ đeo gông, chân tướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván.

Sẽ có người thắc mắc cảnh tượng đó thì có gì đẹp? Cho chữ lẽ ra phải ở chốn thư phòng, tại sao lại diễn ra ở chốn phòng giam chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián? Nhưng thực tế thì chính không gian ấy đã làm tôn lên vẻ đẹp của cảnh cho chữ. Giữa chốn bùn nhơ, giữa chốn giam hãm tù ngục, cái đẹp đã thoát thai với một sứ mệnh vô cùng trọng đại: cứu vớt con người. Và người truyền đi sứ mệnh ấy là Huấn Cao – người cho chữ. Gông xích không ghìm hãm, trói buộc được cảm hứng của người nghệ sĩ tài hoa, không ngăn được đôi tay dậm tô những nét chữ mềm mại, Buồng giam bẩn thỉu, tăm tôi không ngăn được ánh sáng của bó đuốc tẩm dầu, bóng đêm không làm đen bản được tấm lụa bạch căng trên ván. Bóng tối, cái xấu, cái ác đã phải đầu hàng trước ánh sáng của thiên lương, của tình tri kỉ, Người nghệ sĩ không chỉ sáng tạo cái đẹp mà còn cứu vớt tâm hồn con người bằng những lời tri âm sâu sắc: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi […]. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi….

Như vậy, có thể thấy trước Cách mạng, Nguyễn Tuân say sưa quan sát và diễn tả sự tài hoa của con người nhưng phải là những con người xuất chúng, thuộc thời trước còn vương sót lại, những người “đặc tuyến”. Đọc Người lái đò sông Đà, độc giả sẽ thấy có sự thay đổi trong cách khám phá, thể hiện con người của nhà văn.

Nhân vật chính trong Người lái đò sông Đà không thuộc lớp người “sinh lầm thế kỉ”, bơ vơ lạc lõng trong thời hiện đại mà là một người lao động hết sức bình thường trong xã hội hiện tại: người lái đò trên sông Đà. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, ông lái đò ngoài bảy mươi tuổi vẫn hiện lên như một dũng tướng, một nhà chính trị quân sự tài ba trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, một nghệ sĩ có tay lái ra hoa. Với từng trùng vi thạch trận, ông đó có cách chinh phục khác nhau.

Ở cửa ải thứ nhất, ông đó hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng lao vào mình […]. Ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt lại méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. […] trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái. Hiện lên trước mắt chúng ta là một dũng tướng đang chiến đấu rất anh dũng trên trận địa. Mặc dù bị tấn công dữ dội nhưng vị tướng này vẫn hết sức bình tĩnh, tỉnh táo và quyết đoán. Vừa bước ra khỏi vòng vây thứ nhất, con đò đã phải đối diện với vòng vây thứ hai. Ông đò không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đồ ghì cương lái, bám chắc tay luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Vẫn hết sức nhanh nhẹn, tập trung nhưng lúc này ông đò như một kị mã thiện nghệ đang chế ngự con tuấn mã bướng bỉnh là dòng nước ngỗ ngược trên sông Đà. Đến trùng vi thạch trận thứ ba, ông đò vượt qua thật dễ dàng, nhanh chóng: Thuyền nút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, bút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lại được lượn được. Mặc dù không hiện lên trực tiếp nhưng qua hình ảnh con thuyền, chúng ta vẫn có thể hình dung hình ảnh ông đò trong lần vượt thác thứ ba: vô cùng tài hòa với những đường lái hết sức nhanh nhẹn, nhẹ nhàng. Khắc họa hình tượng ông lái đò, tác giả đã huy động tri thức chuyên môn của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau (sử học, địa lí học, khoa học quân sự, tri thức về võ thuật, nghệ thuật văn chương, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, điện ảnh…) khiến nhân vật hiện lên cụ thể, sắc nét và ấn tượng.

Đi tìm vẻ đẹp của con người trong lao động, Nguyễn Tuân đã thể hiện sự hòa nhập đầy hứng khởi, mến yêu với cuộc đời mới. Và chúng ta không còn thấy một Nguyễn Tuân cô độc, độc tôn “cái tôi” nữa, dẫu sau Cách mạng, nhà văn vẫn giữ cho mình cá tính độc đáo vốn có.

Làm nghệ thuật, hơn ai hết các nghệ sĩ sẽ hiểu rằng cái mới, sự sáng tạo luôn là đòi hỏi bức thiết. Những đổi mới của Nguyễn Tuân trong tự tưởng và nghệ thuật ở các sáng tác sau Cách mạng đã cho thấy một nỗ lực cách tân – cách tân chính bản thân mình sao cho phù hợp với những đòi hỏi nghệ thuật của thời đại mới. Đổi mới – điều đó là vô cùng dễ hiểu ở nhà văn ham “xê dịch” như Nguyễn Tuân. Nhưng điều đáng quý là sự thay đổi đó vẫn diễn ra trên một căn bản thống nhất. Để chúng ta vẫn có một Nguyễn Tuân rất “ngông”!

Tuyển tập những bài văn hay lớp 12 / Đọc Tài Liệu

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM