Trang chủ

Cảm nhận về ba khổ thơ đầu bài Bếp lửa (Bằng Việt)

Xuất bản: 30/04/2019 - Cập nhật: 28/10/2019 - Tác giả:

Tuyển tập những bài văn hay nêu cảm nhận về ba khổ đầu bài thơ Bếp lửa của tác giả Bằng Việt.

Cảm nhận ba khổ đầu bài Bếp lửa với tuyển tập những bài văn hay nêu cảm nhận về nội dung ba khổ đầu bài thơ Bếp lửa của tác giả Bằng Việt do Đọc Tài Liệu tuyển chọn.

Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong bài Bếp lửa của Bằng Việt:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về,
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

Top 2 bài văn hay nhất nêu cảm nhận về 3 khổ đầu bài Bếp lửa

Bài mẫu số 1:

Có một thời gian khổ mà ta không thể nào quên. Có những người đã gắn bó với tuổi thơ chúng ta, trở thành kỉ niệm, mang theo bao tình thương nỗi nhớ sâu nặng trong lòng ta. Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt với hình ảnh người bà đã đem đến cho ta cảm xúc và nỗi niềm bâng khuâng ấy:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

..............................................

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa

Đây là phần đầu bài thơ Bếp lửa nói lên những kỉ niệm sâu sắc tuổi thơ với bao tình thương nhớ bà của đứa cháu đi xa.

Tràn ngập bài thơ, đoạn thơ là một tình thương nhớ mênh mông, bồi hồi. Ba câu thơ đầu nói lên hai nỗi nhớ: nhớ bếp lửa, nhớ thương bà. Bếp lửa "chờn vờn sương sớm" gắn bó với mỗi gia đình Việt Nam, với sự tần tảo chịu thương chịu khó của bà. Bếp lửa "ấp iu nồng đượm" đã được nhen nhóm bằng sự nâng niu, ôm ấp của tình thương. Nhớ bếp lửa là nhớ đến bà "biết mấy nắng mưa", trải qua nhiều vất vả, khó nhọc. Điệp ngữ "một bếp lửa" kết hợp với câu cảm thán làm cho giọng thơ bồi hồi xúc động:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

Khổ thơ thứ hai nói về kỉ niệm tuổi thơ, kỉ niệm buồn khó quên: "năm đói mòn đói mỏi", "khô rạc ngựa gầy", "khói hun nhèm mắt cháu", "sống mũi còn cay". Bằng Việt sinh năm 1941, năm nhà thơ lên 4 tuổi, là cuối năm 1944 đầu năm 1945, nạn chết đói kinh khủng đã xảy ra, hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói. Đó là kỉ niệm về "mùi khói", về "khói hun", một cảnh đời nghèo khổ gắn liền với bếp lửa gia đình trước Cách mạng. Vần thơ là tiếng lòng thời thơ ấu gian khổ, rất chân thực cảm động:

Lên bốn tuổi, cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn, đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

"Nghĩ lại đến giờ" đó là năm 1963, đã 19 năm trôi qua, mà đứa cháu vẫn cảm thấy "sống mũi còn cay!". Kỉ niệm buồn, vết thương lòng, khó quên là vậy!

Khổ thơ thứ ba nói về việc nhóm lửa suốt một thời gian dài 8 năm của hai bà cháu. Có tiếng chim tu hú kêu gọi mùa lúa chín trên những cánh đồng quê. Tiếng chim tu hú, những chuyện kể của bà về Huế thân yêu đã trở thành kỉ niệm. "Tu hú kêu...", "khi tu hú kêu...", "tiếng tu hú...", cái âm thanh đồng quê thân thuộc ấy được nhắc đi nhắc lại nhiều lần càng trở nên tha thiết bồi hồi. Đó là tiếng vọng thời gian năm tháng của kỉ niệm về gia đình (bếp lửa), về quê hương (tiếng chim tu hú) yêu thương. Cháu thầm hỏi bà hay tự hỏi lòng mình về một thời xa vắng:

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

"Cháu cùng bà nhóm lửa", nhóm lửa của sự sống, nhóm ngọn lửa của tình thương. Tám năm ấy, đất nước có chiến tranh "Mẹ cùng cha bận công tác không về", cháu ở cùng bà, cháu lớn lên trong tình thương và sự chăm sóc nuôi dưỡng của bà. Hai câu thơ 16 chữ mà chữ bà, chữ cháu đã chiếm đúng một nửa. Ngôn từ đã hội tụ tất cả tình thương của bà dành cho cháu. Một tình thương ấp ủ, chở che:

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.

Hay nhất, hàm súc nhất là từ ngữ: "cháu ở cùng bà", "bà bảo", "bà dạy", "bà chăm". Vai trò người bà trong mỗi gia đình Việt Nam thật vô cùng to lớn. Năm tháng đã trôi qua thế mà bà vẫn "khó nhọc" vất vả "nhóm bếp lửa". Nghĩ về ngọn lửa hồng của bếp lửa, nghĩ về tiếng chim tu hú gọi bầy, đứa cháu gọi nhắn thiết tha chim tu hú "kêu chi hoài". Câu thơ cảm thán và câu hỏi tu từ diễn tả nỗi thương nhớ bà bồi hồi tha thiết. Cảm xúc cứ trào lên:

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

Năm chữ "nghĩ thương bà khó nhọc" nói lên lòng biết ơn bà của đứa cháu đã và đang mang nặng trong trái tim mình tình thương của bà dành cho.

Đoạn thơ đầy ắp kỉ niệm tuổi thơ và dào dạt cảm xúc. Cháu thương nhớ và biết ơn bà không bao giờ quên. Bằng thể thơ tự do 8 từ (có xen 7 từ), tác giả đã tạo nên một giọng thơ thiết tha, chất thơ trong sáng truyền cảm, hình tượng đẹp. Bếp lửa, tiếng chim tu hú, người bà là ba hình tượng hòa quyện trong tâm hồn đứa cháu xa quê, ở đây, tình thương nhớ bà gắn liền với tình yêu quê hương. Câu thơ của Bằng Việt có một sức lay, sức gợi ghê gớm!

Tham khảo thêm hướng dẫn soạn bài Bếp Lửa của Bằng Việt ngắn gọn nhất

Bài mẫu số 2:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa

Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa!

Thơ của Bằng Việt thật thiết tha và nồng đượm. Chỉ là một tiếng gà mái nhảy ổ cục tác trong nắng trưa, chỉ là một bếp lửa chờn vờn sương sớm… mà sao tha thiết nghĩa tình thế, mà sao lắng sâu đến thế. Thì ra có khi những điều nhỏ nhoi, giản dị nhất lại ẩn chứa tâm tình, chắt đọng những điều thiêng liêng, lại hiện hình lên những tình cảm thiết tha, chân thành không thể nào quên. Cứ thế bài thơ Bếp lửa đã đọng trong lòng ta những dư vị ngọt ngào.

Nếu như Tiếng gà trưa đánh thức trong Xuân Quỳnh những kỷ niềm về một thời thơ ấu trong tình thương yêu của bà. Thì với Bằng Việt lại là hình ảnh bếp lửa, nó là biểu tượng cho sự ấm áp, nồng đượm của tình bà cháu. Bếp lửa đã khơi gợi nhóm lên, lan tỏa, tan chảy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ, thao thức, đượm đùa… Hình ảnh bếp lửa thật giàu ý nghĩa cho nên mở đầu bài thơ chính là mở đầu cho nỗi nhớ của tác giả. Nỗi nhớ bà, nhớ chính cái bếp lửa thân quen ấy.

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa

Những hình ảnh mở đầu vừa thực vừa hư như trong truyện cổ tích. Ngọn lửa nhỏ mờ trong sương sớm mai hai hình ảnh lúc ẩn lúc hiện… tạo nên một quang cảnh trữ tình làm lay động cảm xúc dạt dào của tác giả. Bếp lửa! Hình ảnh bếp lửa từ trong sâu thẳm tiềm thức khi ẩn khi hiện, khi mờ trong nỗi nhớ nôn nao của đứa cháu khi xa cách lâu ngày. Từ "ấp iu" được dùng rất sáng tạo. Đó là kết quả rút gọn và nối kết của bao từ "ấp lửa, chắt chiu, nâng niu". Đi với động từ này là tính từ "nồng đượm". Những điều đó đã nói lên rằng bếp lửa đã có một linh hồn, trở thành bếp lửa ủ chứa tình thương của cháu đối với cuộc đời lam lũ, trải qua "nắng mưa" của người bà. Từ đây hai hình ảnh, hai nỗi nhớ đan xen nhau thành hai bệ phóng cho cảm xúc nhà thơ thăng hoa. Rồi tác giả đã vận dụng sáu giác quan để làm sống lại đời thơ bé cùng sống với người bà chịu thương chịu khó.

Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Từ thị giác "chờn vờn sương sớm" cảm giác "ấp iu nồng đượm" và khứu giác "hun nhèm mắt cháu" để nói về đoạn đời đói khổ, đói đến mòn mỏi, hình ảnh người bố đi đánh xe về khô rạc với con ngựa gầy còm. Tất cả đều hội tụ trong mùi khói hun đến nghẹt thở nao lòng cả tuổi thơ. Đó là một vòm trời cổ tích nào cao rộng và nhuốm màu lãng mạn trong thời thơ bé, hay nói đúng hơn khói bếp đã bao trùm suốt khung trời tuổi thơ của tác giả. Ấn tượng về cuộc sống đói khổ và khói bếp nhà nghèo đã đọng lại và da diết trong kí ức của nhà thơ "nghĩ bây giờ sống mũi còn cay". Quá khứ tuổi thơ cay cực đã qua rồi mà dư vị một thời thơ bé vẫn ám ảnh Bằng Việt. Nghĩ lại thấy xót thương trong hồi ức về bà… Tuy chỉ là một đoạn thời thơ ấu những thời gian ấy dài lắm những 8 năm.

Cháu cùng bà nhóm lửa

Tú hú kêu trên những tầm gần xa

Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế

Cuộc sống đói khổ đã làm vấy đen đi tuổi bé thơ hồn nhiên của tác giả. Chỉ mới 4 tuổi thôi mà trông già dặn lắm rồi, già đi do 8 năm trời dài vô tận. 8 năm của biết bao khó nhọc, 8 năm của cái đói và cái vất vả đeo đẳng nhưng chẳng thể nào thoát ra được. Từ bếp lửa cho đến nhóm lửa thật logic. Đã góp phần tô đậm thêm cái vất vả ấy. Nhưng chính bên bếp lửa, trong cái ánh lửa ấm sáng của tình bà cháu, đã hồng lên ngọn lửa kiên trì dai dẳng, niềm tin vào ngày kháng chiến thắng lợi, đất nước sẽ trở lại bình yên. Và bấy giờ lại xuất hiện thêm một hình ảnh gần gũi thân quen.

Tiếng tu hú sóng đôi cùng bếp lửa gợi lên những liên tưởng gần xa. Đời bà và cháu chỉ quanh quẩn bên chiếc bếp gần gũi mà nghe tiếng tu hú kia sao giục giã như khắc khoải những khao khát rộng dài đến một không gian xa xôi ở cuộc sống khác một không gian có những cánh đồng, có mùa quả ngọt trong mùa hè rực nắng, có cánh phượng đỏ, có mùa lúa chín … Nghe não lòng! Cái âm thanh quen thuộc ấy cứ nhắc đi, nhắc lại nhiều lần làm cho lòng tác giả càng trở nên tha thiết, bồi hồi, đó là tiếng vọng gợi nhớ nơi thời gian, năm tháng của kỷ niệm về gia đình về quê hương yêu thương, về những giây phút vắng bóng mẹ cha, chỉ còn bà. Cháu ở cùng bà, cháu lớn lên trong sự nuôi dưỡng yêu thương của bà.

Cháu ở cùng bà bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm bà chăm cháu học

"Cháu ở cùng bà" từ ngữ thật hay và hàm súc "bà bảo", "bà dạy", "bà chăm" vai trò của bà trong gia đình thật to lớn. Năm tháng đã trôi qua, thế mà bà vẫn khó nhọc vất vả nhóm bếp. Ngẫm nghĩ ngọn lửa hồng và tiếng chim tu hú gọi bầy, đứa cháu nhỏ bỗng thốt lên câu nói giản dị những dạt dào tình yêu thương "chim tu hú kêu chi hoài". Câu thơ cảm thán và câu hỏi tu từ diễn tả nỗi thương nhớ bà da diết. Cảm xúc cứ trào lên như sóng vỗ.

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa

Cháu cảm thông với nỗi nhọc nhằn của bà, cháu đã dần khôn lớn trong vòng tay chở che ấm áp ấy. Cháu càng lớn càng cảm thấy xót thương cho mảnh đời bất hạnh của tu hú. Cháu muốn tu hú cũng được sự chăm sóc như bà đối với mình. Kỷ niệm cứ hiện dần lên và trong xúc cảm hình ảnh bà và hình ảnh bếp lửa đã hòa quyện đồng nhất thành một. Trong lòng cháu, hai hình ảnh như một, tuy một mà hai. Để chỉ còn hiện lên trong tâm trí người cháu một xúc cảm mãnh liệt, một cái gì đó rất nồng đượm.

Đọc đoạn thơ thêm một lần nữa, chúng ta cảm thấy trong lòng lại trào dâng niềm cảm xúc. Đoạn thơ đã khơi dậy cho chúng ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, quê hương và xã hội. Càng suy ngẫm, thấm từng lời thơ của Bằng Việt ta càng hiểu thế nào là nỗi nhớ quê hương.

Ôi! làm sao có thể quên cho được

Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa!

Văn mẫu 9 hay sưu tầm và tổng hợp / Đọc Tài Liệu

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM